Sóng -Xuân Quỳnh

Sóng
-Xuân Quỳnh-
Đề: Phân tích từng khổ thơ
1.Mở bài:
Xuân Quỳnh là một trong số những nhà thơ tiêu biểu nhất của thế hệ các nhà thơ trẻ trong thời kì chống Mĩ, như Phạm Tiến Duật, Thanh Thảo, Nguyễn Khoa Điềm, Bằng Việt… Thơ Xuân Quỳnh la tiếng lòng của một tâm hồn phụ nữ nhiều trắc ẩn, vừa hồn nhiên, tươi tắn, vừa chân thành, đằm thắm và luôn da diết trong khát vọng về hạnh phúc đời thường. Bài thơ Sóng in trong tập Hoa dọc chiến hào, sáng tác năm 1967, tại biển Diêm Điền là một bài thơ đặc sắc viết về Tình yêu, rất tiêu biểu cho phong cách Xuân Quỳnh.
2. Giới thiệu chung – Hoàn cảnh ra đời-Âm điệu của Sóng
Bài thơ được sáng tác năm 1967 tại Diêm Điền (Thái Bình) – thời kì chiến tranh kháng chiến chống Mỹ ác liệt khi mà thanh niên trai gái ào ào ra trận, “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước / Mà lòng phơi phới dậy tương lai”. Cảm hứng chủ đạo trong thời kì này là về Đất nước, là Tổ quốc, là hình ảnh sân ga, bến tàu, bến xe, nơi những “cuộc chia ly màu đỏ” đang diễn ra hàng ngày hàng giờ. Nhưng bài thơ không đau khổ bi quan, ngược lại, nó tràn đầy niềm tin, khát vọng và đặc biệt là sự chiêm nghiệm về hạnh phúc đích thực, Xuân Quỳnh đã tìm về miền riêng tư sâu thẳm trong trái tim người con gái: Tình yêu.
Nhan đề bài thơ là Sóng. Và để tạo ra âm điệu của sóng, nhà thơ đã dùng thể thơ 5 chữ, ngoại trừ 1 khổ thơ có 6 câu, mỗi khổ thơ gồm 4 câu, mỗi khổ là một đợt sóng; mỗi khổ lại chất chứa khát vọng về một tình yêu. những câu thơ 5 chữ liền mạch, hầu như không ngắt nhịp, gợi lên nhịp điệu những con sóng biển: lúc dào dạt sôi nổi, lúc sâu lắng dịu êm và cứ nhịp nhàng miên man như thế chạy suốt bài thơ, triền miên không dứt. Đặc biệt, âm điệu của sóng còn được tạo ra bằng các thế đối lập trong nội bộ từng câu thơ hay giữa các dòng thơ với nhau : “Dữ dội và dịu êm/ Ồn ào và lặng lẽ”, “Con sóng dưới lòng sâu/ Con sóng trên mặt nước”… Sóng còn ùa cả vào cấu trúc ngôn ngữ, tạo một âm điệu dập dờn chìm nổi vô hạn vô hồi. Sóng mượn hình tượng con sóng biển để diễn đạt những lớp sóng lòng nhiều cung bậc, sắc thái cảm xúc với âm điệu bài thơ là nước hò trộn thanh âm, nhịp điệu của sóng với những trắc trở, khát khao nhớ thương hờn giận đan xen, tiếp nối trong cõi lòng người con gái đang yêu. Xuân Quỳnh đã triệt để tận dụng lối tổ chức theo nguyên tắc tương xứng, hô ứng, trùng điệp. Nhất là việc tạo ra các cặp từ, các vế câu, các cặp câu, thậm chí ngay cả các khổ thơ cũng hình thành các cặp đối xứng, kế tiếp luân phiên đắp đổi nhau vế B –T. Nhờ đó qua âm điệu, người đọc dễ liên tưởng đến hình ảnh những con sóng chập trùng vô tận trên mặt biển.
3. Phân tích bài thơ
3.1 . Hai khổ đầu: Khát vọng đi tìm tình yêu đích thực
Sóng mang trong mình nhiều trạng thái : dữ dội/ồn ào rồi dịu êm/lặng lẽ, cũng như đứng trước sóng biển, ta luôn thấy có lúc sóng dịu êm xô bờ cát trắng, có lúc sóng cuộn sóng mạnh mẽ, dữ dội, những trạng thái này dù có đối lập trái chiều nhưng vẫn thống nhất trong 1 chỉnh thể, bởi nối giữa 2 vế đối lập là từ “và” chứ không phải từ “mà”. Cũng chính vì Sóng phức tạp, khó lường, sóng đa đoan nên dòng Sông thì nhỏ hẹp, không đủ để bao chứa sóng, sóng làm cuộc hành trình ra biển lớn để được làm chính mình, để được vùng vẫy, thỏa mãn. Nói cách khác, cuộc hành trình từ sông ra bể của sóng là cuộc hành trình vĩ đại, rời bỏ cái nhỏ hẹp, hướng tới cái rộng lớn bao la…
“Dữ dội và dịu êm
ồn ào và lặng lẽ
Sông không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể”
Em – người con gái tìm thấy ở sóng điểm tương đồng. Người con gái khi yêu dịu dàng nhu mì.. mà cũng có khi dữ dội mạnh mẽ … có lúc lại đa đoan, hay suy nghĩ, nghi ngờ.
Đốt lòng em câu hỏi
Yêu em nhiều không anh?
Thế nên Em sẵn sàng rời bỏ cái nhỏ hẹp, tầm thường để khát khao vươn tới cái rộng lớn, khoáng đạt. Nhịp điệu câu thơ “Sông không hiểu nổi mình, sóng tìm ra tận bể” nhanh, dứt khoát, không bị ngăn trở bởi bất kì suy nghĩ nào, vượt qua mọi lễ giáo kìm kẹp người phụ nữ..Nó khác hẳn với quan điểm đạo đức xưa : người phụ nữ bị động, kín đáo “thân em như tấm lụa đào, phất phơ giữa chợ biết vào tay ai”… thì giờ đây người phụ nữ nắm lấy quyền được chủ động tìm tới hạnh phúc của mình và người mình yêu. Đó chính là quan điểm nhân văn tiến bộ, khiến bài thơ ngay từ đầu đã được người đọc đón nhận với một sự đồng lòng gần như tuyệt đối.
Đi từ con sóng của riêng mình, XQ muốn đi tìm sự đồng điệu của biết bao trái tim yêu khác, bà nhận ra rằng, khát vọng vươn ra bể không chỉ riêng mình mà là của chung bao nhiêu thế hệ. Cành mạnh mẽ hơn nữa khi đó là tình yêu của những con người trẻ tuổi. Xưa Xuân Diệu đã viết:
Hãy để trẻ con nói cái ngon của kẹo
Hãy để bà nói má thơm của cháu
Hãy để tuổi trẻ ca ngợi tình yêu
Tình yêu không phải là sản phẩm của riêng những trái tim tuổi trẻ, và chắc chắc, chữ “ngực trẻ” ở đây không phải là tuổi tác, đó là cảm xúc tươi mới của tình yêu, của những người luôn biết giữ cho trái tim mình “tươi trẻ”, luôn biết giữ cho trái tim mình rung động, bồi hồi…
Ở đây Xuân Quỳnh đã có một cuộc hành trình mang tính nhận thức : Những dòng này được viết ra trong thời kì kháng chiến chống Mỹ ác liệt – là lúc người ta không dành mấy quan tâm cho những cảm xúc riêng tư như thế. Vậy mà Xuân Quỳnh vẫn viết được hay về tình yêu, phải chăng ta đã từng gặp cảm xúc đầy nhân bản ấy trong những vần thơ của Quang Dũng, nơi người lính trong : Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm…hay của Nguyễn Đình Thi:
Những đêm dài hành quân nung nấu
Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu
Quả thật, “Có ai sống được mà không yêu Không nhớ không thương một kẻ nào”, cảm xúc đời thường ấy thật đáng trân trọng, đáng quý…và có lẽ vì vậy bài thơ mới mang sức sống và làm rung động biết bao trái tim yêu khác.
3.2 . Khổ 3,4 : Truy tìm nguồn gốc tình yêu
Đứng trước vũ trụ mênh mông, biển cả rộng lớn, người con gái nghĩ đến Tình yêu, và chẳn hẳn vang lên câu hỏi “từ nơi nào sóng lên” hay “tình yêu bắt đầu từ lúc nào?”. Đi tìm nguồn gốc của tình yêu là nhu cầu của muôn đời, của biết bao thế hệ
“Gió sao gió mát sau lưng
Dạ sao dạ nhớ người dưng thế này”
(Ca dao)
Xuân Diệu cũng đã thắc mắc
“Làm sao cắt nghĩa được tình yêu
Ôi có gì đâu một buổi chiều
Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt
Bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu”
Nhưng dường như càng thắc mắc thì con người ta càng bế tắc, không thể hiểu rõ tình yêu bắt đầu từ lúc nào? , từ nơi đâu? Có lẽ với phụ nữ đây là điều quan thiết nhất. Dường như đối với phụ nữ, tình yêu thực sự đồng nghĩa với sự sống, với số phận. Khám phá tình yêu chính là khám phá sự sống, khám phá số phận mình_đó là cái logic tâm trạng khiến người con gái trong bài thơ đau đáu suy tư về bản chất tình yêu. Từ cái nền hoành tráng của thiên nhiên, dòng suy tư cứ cuộn lên như sóng, những câu hỏi hoà thành cuộc đối thoại lớn với vũ trụ về tình yêu:
“ Sóng bắt đầu từ gió
Gió bắt đầu từ đâu
Em cũng không biết nữa
Khi nào ta yêu nhau”.
Vậy tình yêu bắt đầu từ lúc nào? Xuân Quỳnh cũng đã cố gắng đi tìm câu trả lời, đã thử dùng khoa học để giải thích : “Sóng bắt đầu từ gió”. Nhưng câu hỏi vừa được giải đáp thì lại có một câu hỏi khác : “Gió bắt đầu từ đâu?” Đáp lại vẫn là sự bế tắc, vẫn là cái lắc đầu “em cũng không … yêu nhau”“tình yêu nằm ngoài mọi qui luật của khoa học” – Pascal . Hóa ra không thể lấy khoa học để giải thích tình cảm. Tình yêu không khước từ lí trí nhưng trước hết và sau cùng nó phải là một đam mê, nó phải được nhận thức bằng toàn bộ sự xúc động của trái tim. Cho nên không thể dùng lí trí tỉnh táo xác định thời điểm bắt đầu một mối tình. Tình yêu là cõi ảo. Chính sự bất lực của những câu trả lời góp phần kì ảo hóa tình yêu. Có lẽ vì vậy mà trong bài thơ tình số 21 của thi hào Tagor đã viết rằng:
“Trái tim anh cũng ở gần em như chính đời em vậy
Nhưng chẳng bao giờ em biết trọn nó đâu”
Có một cái lắc đầu thật dễ thương, thật phụ nữ trong câu thơ: “Em cũng không biết nữa”. Đặt trong chỉnh thể cấu trúc của khổ thơ, câu thơ bật ra như lời nói thật tự nhiên và chính điều đó tạo ra giọng điệu rất thú vị. Nếu đảo lại cho đúng kết cấu logic của giao tiếp ( hỏi trước, đáp sau ): “ Khi nào ta yêu nhau_Em cũng không biết nữa”. Thơ sẽ lăn về phía lí trí tỉnh táo. Viết như Xuân Quỳnh ( lời đáp đi trước câu hỏi ), hiệu quả khác hẳn. Nó là một bức xúc tình cảm hơn là một bức xúc trí tuệ, là sự nhạy cảm choáng váng của cô gái khi chợt chạm vào vùng chói sáng của tình yêu. Tình yêu là một chói sáng khác thường khiến người ta phải thổn thức như cô gái trong ca dao xưa:
“ Thấy anh như thấy mặt trời
Chói chang khó ngó trao lời khó trao”
Trong chiều sâu tâm hồn người phụ nữ đang yêu vẫn có băn khoăn, vẫn có ý thức trăn trở để tìm đến cái cội nguồn của tình yêu, của sự cảm thông, sẽ chia. Mê đắm mà tỉnh táo, biết nghĩ, có trách nhiệm với tình yêu của mình – Đó là nét đặc biệt đáng quý của trái tim yêu dạt dào trong Sóng. Có lẽ bởi vậy ngay từ lúc mở đầu bài thơ, Xuân Quỳnh đã phát hiện ra sự tương hợp giữa tâm hồn một người con gái đang yêu với trạng thái hay chứa đựng những đối cực của sóng: “Dữ dội và dịu êm, ồn ào và lặng lẽ”. (Từ đó bài thơ cứ nhịp nhàng phát triển theo hàng loạt đối sánh trên nhịp ngắt của thể thơ năm chữ gợi lên hình tượng những con sóng). Sóng và sức mạnh của sóng là nỗi bí ẩn muôn đời cũng như quy luật của tình yêu, một quy luật không thể nào cắt nghĩa. Trong băn khoăn truy tim ngọn nguồn của tình yêu, nhà thơ đã nghĩ – nghĩ nhiều về biển lớn, về anh, em, về cuộc đời. Có điều, tìm và nghĩ không phải vì nghi ngờ, không phải để nghi ngờ mà để hiểu sâu sắc hơn và yêu mê đắm hơn
3.3 . Khổ 5,6,7: Cảm xúc trong trái tim yêu.
a. 6 câu thơ đầu
Nếu như chọn ra khổ thơ hay nhất trong bài thơ Sóng thì chắc chắn phải chọn khổ thơ viết về nỗi nhớ. Đây cũng chính là đoạn thơ đặc biệt nhất với 6 câu thơ trong 1 khổ thơ. Trước tiên, lúc này Xuân Quỳnh cũng có một khám phá rất mới mẻ về sóng biển và đại dương. Đại dương không chỉ có con sóng trên mặt nước mà nó còn có những con sóng ngầm dưới lòng sâu. Và những con sóng ngầm mới chính là những con sóng dữ dội nhất, mãnh liệt nhất, cồn cào nhất… Một phát hiện thứ hai : Xuân Quỳnh nhận thấy, dù con sóng ở không gian nào, ở lòng sâu hay trên mặt nước, ở thời gian ra sao, ngày hay đêm, thì con sóng cũng luôn luôn hướng tới bờ. Dường như việc hướng tới bờ chính là lẽ sống, lẽ tồn tại của sóng. Sóng phải hướng tới bờ, không thì cuộc sống của nó trở nên vô nghĩa. Còn đối với tình yêu, dường như nỗi nhớ chính là điểm khởi đầu. Từ trước tới nay, người ta đã nói rất nhiều về nỗi nhớ trong tình yêu :
“Đêm nằm lưng chẳng tới giường
Trông cho mau sáng ra đường gặp anh”
hay
“Khăn thương nhớ ai
Khăn rơi xuống đất
Khăn thương nhớ ai
Khăn vắt lên vai
Khăn thương nhớ ai
Khăn chùi nước mắt”
(ca dao)
Đến Xuân Diệu, người tự coi mình là “kẻ uống tình yêu dập cả môi” cũng
“Anh nhớ tiếng, anh nhớ hình, anh nhớ ảnh
Anh nhớ em, anh nhớ lắm em ơi”
Trong bài Thuyền và biển Xuân Quỳnh cũng bộc lộ
“Những ngày không gặp nhau
Biển bạc đầu thương nhớ
Những ngày không gặp nhau
Lòng thuyền đau rạn vỡ”
Vậy là, Xuân Quỳnh dường như đã trả lời được câu hỏi mà với bà và biết bao nhiêu thế hệ khác đã thắc mắc : sóng nổi lên vì nó nhớ bờ – tình yêu bắt đầu bằng nỗi nhớ. Ai đó đã từng nói : “một trái tim đang nhớ là một trái tim bắt đầu yêu, một trái tim không còn yêu thì trái tim cũng ngừng nhớ …” Rõ ràng, nữ sĩ đã tìm thấy sự đồng điệu giữa mình và sóng. Tình yêu của người con gái có lúc được biểu hiện ở vẻ bên ngoài, nhưng cũng có lúc chỉ là những con sóng lòng khôn nguôi da diết. Chính những con sóng lòng mới là những con sóng dữ dội nhất. Tuy nhiên, nếu như sóng bị qui định bởi giới hạn của không gian và thời gian thì tình yêu, nỗi nhớ của người con gái hướng tới người mình yêu đã vượt qua giới hạn của cõi thực để bước vào cõi mộng :
“Lòng em nhớ tới anh
Cả trong mơ còn thức”
Câu thơ ban đầu nghe có vẻ phi lý, nhưng đó lại là logic của trái tim : hình ảnh của anh đi sâu vào tiềm thức của em, phá vỡ mọi giới hạn, mọi bờ bến để luôn nhớ anh – ngay cả trong mơ. Bên cạnh đó chúng ta còn thấy dường như Xuân Quỳnh đã vượt qua quan điểm cổ truyền của người con gái phương đông – thường bộc lộ tình cảm một cách rất kín đáo. Bốn câu thơ đầu, nhà thơ mượn sóng để nói lên tâm trạng của mình, thì dường như không thể kìm nén được nữa, người phụ nữ ấy phải thốt lên một cách trực tiếp : “em nhớ anh”.
Thật tự nhiên và thơ mộng, hình ảnh con sóng nhớ bờ nên ngày đêm sóng vỗ, sóng thao thức với thời gian và đại dương. Thật hạnh phúc cho người con trai nào được nhớ đến như vậy ! Nhớ đến mức ấy chắc không ít, nhưng lại ít có người phụ nữ dám tường tận đi hết cõi lòng mình, dám cả gan phơi trải như thế mà không sợ bị những lời gièm pha của người đời quả thật chúng ta cảm thấy tình yêu này thật mãnh liệt! Và có lẽ chúng ta đều có thể cảm nhận được rằng lối cấu tứ cùng những hình ảnh thơ theo phong cách mới mẻ như thế này chỉ có thể xuất hiện trong không khí dân chủ của thời đại xã hội mới. Nhìn từ phía khác, đó cũng là một minh chứng sinh động cho sức mạnh của tình yêu. Một tình yêu mãnh liệt khiến con người ta tự nhiên vượt khỏi các thói quen, những giới cách của ước lệ.
b. Khổ 6,7
Ở khổ thơ gồm 6 câu thơ trc, XQ tập trung nói về nỗi nhớ. Nỗi nhớ chỉ là một trong những cung bậc đầu tiên của tình yêu, là điểm khởi đầu của tình yêu. Đến 4 câu tiếp, Xuân Quỳnh đã nói đến 1 cảm xúc khác, cung bậc khác. Đó là suy nghĩ. Xuân Quỳnh đã khám phá thêm 1 điều nữa, không thông qua hình tượng sóng, Xuân Quỳnh trực tiếp bày tỏ tỉnh cảm. Điều đó bắt đầu bằng từ “dẫu”. “Dẫu” có nghĩa là mặc dù, giả như… Trường hợp đang được nói đến ở đây là ngược nam, xuôi bắc. Trong hoành cảnh bình thường là ngược bắc, xuôi nam (đảo lộn) có rất nhiều chuyện có thể xảy ra trong cuộc đời. Đặc biệt thời bấy giờ là thời loạn lạc chia ly. Nhưng Xuân Quỳnh khẳng định dù có thế nào em cũng hướng về “phương anh” – là phương duy nhất , đó chẳng phải là sự thủy chung – vốn là nét đặc trưng của người phụ nữ ?
Rút sợi nhớ – Đan vòm xanh
Rợp trời thương – Màu xanh suốt
Em nghiêng hết – Về phương anh
Nên nhớ rằng Xuân Quỳnh viết bài thơ này vào những năm 1967, khi cuộc kháng chiến của nhân dân miền Nam ở vào giai đoạn ác liệt, khi thanh niên trai gái ào ào ra trận “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, khi sân ga, bến nước, gốc đa, sân trường diễn ra những cuộc chia ly màu đỏ. Cho nên có đặt bài thơ vào trong hoàn cảnh ấy ta mới càng thấy rõ nỗi khát khao của người con gái trong tình yêu. Cũng giống như bên đợi thuyền, thuyền nhớ bến, lúc nào lòng người con gái cũng bồi hồi nhớ thương:
“Ở ngoài kia đại dương
Trăm ngàn con sóng nhỏ
Con nào chẳng tới bờ
Dù muôn vời cách trở”
Ta thấy được 1 qui luật của tạo hóa, của tự nhiên: sóng luôn vỗ bờ. Quả thật ngàn năm trc, lúc này, hay mai sau, bất cứ con sóng nào 1 khi đã nổi lên thì nó cũng tìm đường đến với bờ bến cách trở. Tình yêu của em dành cho anh cũng vượt qua mọi giới hạn của không gian và thời gian, vượt qua sóng gió cách trở của cuộc đời. Cũng như “em” muốn được gần bên anh, được hòa nhịp vào trong tình yêu với anh, hay là anh và em sẽ vượt qua mọi khó khăn để đến với nhau, để sống trong hạnh phúc trọn vẹn của lứa đôi. Đây vốn là 1 đặc trưng của tình yêu muôn đời
“Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo
Ngũ lục sông cũng lội, thất bát đèo cũng qua”
Bên cạnh đó chúng ta còn thấy dường như đang diễn ra 1 cuộc đảo lộn trong lịch sử thơ ca. Nếu như thơ xưa vẫn nói :
“Thuyền về có nhớ bến chăng?
Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền” .
Hay như Xuân Diệu cũng bộc lộ :
“Để hôn mãi ngàn năm không thỏa
Bởi yêu bờ lắm lắm em ơi”
Vậy là “bờ” – em; “thuyền”, “sóng” – là anh. Thuyền là biểu tượng tĩnh ám chỉ phụ nữ. Thuyền là biểu tượng động ám chỉ đàn ông. Xuân Quỳnh làm ngược lại: “bờ” tĩnh là anh, “sóng” động là em. Người phụ nữ trong thơ Xuân Quỳnh đã đập vỡ ngục tù của cái tình để giành quyền chủ động trong đời. Đó là một “đảo lộn lịch sử” mang lại bản chất mới cho hình tượng sóng của Xuân Quỳnh….
3.4. 2 khổ cuối : Khát vọng về tình yêu và hạnh phúc vĩnh cửu:
Xuân Quỳnh viết bài thơ khi bản thân đã trải qua nhiều sóng gió. Nên như một người phụ nữ giàu suy tư, nữ sĩ đã đặt ra vấn đề
“Cuộc đời tuy dài thế
Năm tháng vẫn đi qua
Như biển kia dẫu rộng
Mây vẫn bay về xa”
Quả thật cuộc đời con người dù có dài cũng như biển kia có rộng lớn muôn trùng thì năm tháng cứ trôi, mây kia cứ bay, vượt qua đại dương mênh mông. Nói cách khác, cuộc đời con người thật ngẳn ngủi, kiếp người hữu hạn. Hồ Xuân Hương đã thốt lên
“Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại”
và Xuân Diệu đã từng than thở
“Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua
Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già
Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất”
Cũng chính vì ý thức được sự hữu hạn của đời người, của tình yêu, thi sĩ đã bộc lộ 1 khát vọng mãnh liệt
“Làm sao để tan ra
Thành trăm con sóng nhở
Giữa biển lớn tình yêu
Để ngàn năm còn vỗ”
Xuân Diệu bộc lộ khát vọng sống mãnh liệt bằng hành động “cắn”, “riết”, “say”, “đưa”… để thưởng thức hết những hương vị của cuộc đời, thì Xuân Quỳnh chỉ khát vọng “tan ra” – tình yêu mãnh liệt, yêu hết mình, cháy hết cho tình yêu.
Chúng ta ấn tượng đặc biệt bởi các số từ “trăm”, “ngàn” như khẳng định khát vọng về một tình yêu bất tử. Đó phải chăng là ước muốn của tất cả những người đang yêu trên thế gian này. Xuân Quỳnh đã sống hết mình cho tình yêu kể cả sau này, khi chị đã qua nhiều khổ đau và từng trải. Cái khát vọng được còn mãi tình yêu của mình vẫn là một ước muốn thiết tha và khắc khoải trong trái tim giàu yêu thương ấy:
“Em trở về đúng nghĩa trái tim em.
Là máu thịt đời thường ai chẳng có.
Vẫn ngừng đập lúc cuộc đời không còn nữa
Nhưng biết yêu anh cả chết đi rồi”
4. Kết bài:
“Sóng” là bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ giọng thơ Xuân Quỳnh, nhất là giai đoạn đầu. Đến giai đoạn ấy có thêm những nét đắm sâu, dung dị và da diết hơn. Bài thơ cũng thể hiện được vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ: tha thiết, sôi nổi, rạo rực, yêu đắm say, nhớ lạ lùng, trong sáng thuỷ chung. Nét mới lạ của tình yêu trong thơ Xuân Quỳnh. Khát vọng bất tử hoá tình yêu: khao khát tình yêu, khao khát được yêu trọn vẹn, yêu đến muôn đời. đúng như một nhà nghiên cứu đã nhận xét“Xuân Quỳnh khi yêu, rất nồng nàn và rất thật. Trước nay có lẽ chưa có người con gái nào làm thơ đã nói những lời yêu cháy bỏng, thật và dữ dội như chị – đó chính là nét hiện đại của tâm hồn chị, tâm hồn người phụ nữ thế kỉ XX, dám yêu và dám thổ lộ tất cả. ” (Mai Quốc Liên)
Cả bài thơ, nếu kể đến nhan đề, thì tác giả đã mười một lần nhắc đến từ “sóng”. Sóng vỗ như tâm tình xôn xao. Sóng cho ta nhiều ấn tượng về âm điệu của sóng, cũng như giọng điệu tâm tình, nhịp điệu của bài thơ. Thơ hồn nhiên, liền mạch về cảm xúc, trong sáng trong cách diễn đạt của tác giả. Sóng vỗ trên đại dương mênh mông cũng chính là sóng vỗ trong lòng người con gái. Từ hình tượng “sóng” Xuân Quỳnh cho ta thấy rõ vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu. Với tình yêu chân thành, thắm thiết, người phụ nữ muốn sống hết mình, sống trọn vẹn trong tình yêu đẹp. Yêu là nhớ ngày mong đêm, người phụ nữ khát khao được hòa nhập gần gũi trong tình yêu ấy. Họ yêu thật nồng nàn, say đắm, thủy chung. Đọc xong bài thơ Sóng ta càng ngưỡng mộ hơn những con người phụ nữ Việt Nam, những con người luôn thủy chung, luôn sống hết mình vì một tình yêu. Xuân Quỳnh xứng đáng là một nhà thơ nữ của tình yêu lứa đôi, bà đã làm phong phú hơn cho nền thơ nước nhà.

-st-