ĐẤT NƯỚC – 9 CÂU THƠ ĐẦU 

ĐẤT NƯỚC 9 CÂU THƠ ĐẦU 
1. Mở bài.
“Đất Nước” là hình tượng trữ tình lớn, là cảm xúc nghệ thuật cao cả và mê say của nhiều thế hệ thơ Việt Nam. Rung động mãnh liệt trước chân dung Tổ quốc, ở gần cuối đoạn thơ “Đất Nước” ( trích chương V trường ca “Mặt đường khát vọng” ),
Nguyễn Khoa Điềm viết:
“Để Đất Nước này là Đất Nước Nhân dân
Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại”
Hai câu thơ không chỉ là lời định nghĩa mà chủ yếu là một nhận thức sâu xa: “Đất Nước của Nhân dân”. Nhận thức này đã quy tụ mọi cách nhìn và cả nhận về Đất Nước trong đoạn thơ trên, đồng thời là cơ sở cho những khám phá mới mẻ, sâu sắc của Nguyễn Khoa Điềm, góp phần làm sâu thêm sự chiếm lĩnh hình tượng Đất Nước trong thơ ca Việt Nam thời chống Mĩ. Tất cả những cảm xúc ấy có lẽ đã được dồn nén trong đoạn thơ đầu của đoạn trích.
2. Hoàn cảnh ra đời, cảm hứng chủ đạo
Trường ca “Mặt đường khát vọng” được Nguyễn Khoa Điềm hoàn thành ở chiến khu Trị Thiên năm 1971, in lần đầu 1974. Tư tưởng “Đất nước Nhân dân”. Tư tưởng này không chỉ có ý nghĩa thôi thúc thế hệ trẻ trong đô thị miền Nam tham gia vào cuộc đấu tranh giải phóng đất nước lúc bấy giờ mà còn có ý nghĩa nhận thức lâu dài với con người VN vốn yêu tha thiết Tổ quốc mình. Vốn liếng sách vở và những trải nghiệm cá nhân của thi sĩ đã được nhào nặn trong cuộc đấu tranh vĩ đại của dân tộc. Cuộc đấu tranh ấy là các phông nền hiện thực hùng vĩ cho chí hướng nghệ thuật của Nguyễn Khoa Điềm tung hoành phóng khoáng trước tầm vóc lớn của nhân dân, đất nước, để rồi kết đọng vào một cảm nhận hàm súc và chắc nịch: “Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại”
3.Thân bài
3.1. 9 CÂU THƠ ĐẦU
Những dòng thơ đầu dẫn ta tìm nguồn cội của đất nước: Bằng những lời thơ, những chi tiết đầy sức gợi, tác giả đã lý giải sự thắc mắc bao đời của chúng ta: đất nước hình thành như thế nào? Đất nước có từ đâu ?
“Khi ta lớn lên……Đất nước có từ ngày đó”
“Ngày xửa ngày xưa…” là nhịp điệu ngàn đời của lời kể cổ tích có khả năng ngân vang trong tâm thức của người Việt 1 không gian riêng của cô tấm và quả thị, của chú bé vươn vai thành tráng sĩ, 1 thời gian riêng của thưở khai thiên lập địa để rồi người đọc lặng đi xúc động trước 1 cách định nghĩa Đất Nước một cách bất ngờ…..
Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi..
Đất nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa“… mẹ thường hay kể.
Âm hưởng của lời thơ lắng đọng như giọng kể chuyện tâm tình thủ thỉ giữa những kẻ thân thương, gợi ra ở người nghe dòng liên tưởng trôi về một thời quá khứ xa xăm, trong ấy trầm tích bao huyền sử tự hào về cuộc sống chiến đấu của cha ông. Nhà thơ đã sử dụng thi pháp tuyệt vời ở câu thơ bỏ ngỏ. Sau trạng ngữ chỉ thời gian “Ngày xửa ngày xưa”…, lời kể của mẹ được chuyển sang cho người đọc tự liên tưởng hình dung về bao hình tượng đẹp một thời làm xôn xao tuổi mộng vàng như Thánh Gióng, Trần Quốc Toản, Mai An Tiêm… Cả một nền văn hoá, văn học dân gian với bao thần thoại, truyền thuyết phong phú làm sao có thể gói trọn trong mấy vần thơ. Thi nhân như trao cho người đọc chiếc chìa khoá để tự mình khám phá cái kho tàng văn hoá phong phú tổ tiên trao lại. Lần về mảnh vườn cổ tích ấy, những ai có lòng chắc chắn sẽ tự mình chắt chiu được những giọt mật mà bồi dưỡng tâm hồn thiện chân, tìm đến một lẽ sống đẹp.Truy tìm về cội nguồn Đất Nước, khó ai có thể xác định minh bạch cái ngày tháng khởi thuỷ của nó, cho dù là nhà khảo cổ hay sử gia. Nguyễn Khoa Điềm lại xác định cái buổi ban đầu ấy qua một nét sống giản dị nhưng đậm đà của những người mẹ, người bà Việt Nam:
Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất Nước lớn lên khi mình biết trồng tre mà đánh giặc
Không ai lấy tiêu chuẩn đo lường của nhà khoa học để bắt bẻ thi nhân. Nguyễn Khoa Điềm khẳng định chân lí bằng một trực cảm thiên tài để lí giải một cách cụ thể sinh động về sự khởi nguyên và phát triển của đất nước qua hình tượng miếng trầu, cây tre. Những hình tượng bình thường quen thuộc trong đời sống của nhân dân Việt Nam, nhưng mãi cho đến khi Nguyễn Khoa Điềm phát biểu, cái chân lí ngỡ là hiển nhiên đấy, người đọc lắng lại một khoảnh khắc, sau đó ngớ ra bao điều thú vị. Bởi lẽ, thẩm thấu vào các tế bào mỏng manh ấy, là những mối quan hệ tình nghĩa truyền thống đẹp của con người Việt Nam.
“Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi
Này của Xuân Hương mới quyện rồi
Có phải duyên nhau mới thắm lại
Đừng xanh như lá bạc như vôi.”
Trong tục cúng lễ, miếng trầu quả cau là biểu tượng cho tấm lòng thành của con cháu gửi đến hồn thiêng những bậc đã khuất, là nhịp cầu giao cảm với tiền nhân. Miếng trầu gợi ra huyền sử tình yêu, nói lên mối quan hệ vợ chồng chung thuỷ, nghĩa anh em Tân – Lang trọn vẹn. Và có lẽ từ đó, miếng trầu trở thành vật biểu trưng cho tình yêu và hôn nhân. Miếng trầu giúp dẫn mối tìm nhau, để cho con người phải lứa nên duyên, là nhân tố tạo nên bao đôi uyên ương chắp cánh chung cành. Để rồi khi họ về già, thong thả nhai miếng trầu, nhớ buổi thanh xuân tình nồng nghĩa đượm, mà đột nhiên nở nụ cười mãn nguyện chuyện tình xưa. Chẳng phải từ “miếng trầu là đầu câu chuyện”, từ “miến trầu nên dâu nhà người”, tình bạn, tình yêu lứa đôi chẳng phải là cội nguồn sâu xa nhất của đất nước hay sao?
Nhà thơ lại liên tưởng song hành về sự lớn mạnh của đất nước từ buổi “dân mình biết trồng tre mà đánh giặc”. Đất nước Việt có điều kiện thổ nhưỡng phù hợp tạo điều kiện cho cây tre sinh sôi phát triển khắp mọi miền của Tổ Quốc, đem lại một màu xanh bát ngát cho quê hương. Nguyễn Duy cũng từng trăn trở về những phẩm chất kì lạ của cây tre Việt :
Tre xanh xanh tự bao giờ?
Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh
Thân gầy guộc lá mong manh
Mà sao nên luỹ nên thành tre ơi?
Ở đâu tre cũng xanh tươi
Cho dù đất sỏi đất vôi bạc màu?
Cây tre hiền hậu trên mỗi làng quê. Nó như là sự đồng hiện những phẩm chất đôi khi ngỡ là đối lập trong cốt cách con người Việt Nam: thật thà chất phác, đôn hậu thuỷ chung, yêu chuộng hoà bình như cây tre mềm mại để hoá thành những vật dụng xinh xắn trong cuộc sống con người: nhỏ nhắn như cây tăm, đôi đũa; êm ái như chiếc nôi ru ta lớn lên vào đời; yên ổn vững chắc như “cái kèo cái cột thành tên”, làm nên ngôi nhà tổ ấm cho mọi gia đình đoàn tụ bên nhau; siêng năng tích góp mỡ màu dồn thành sự sống như Nguyễn Duy so sánh:
Rễ siêng không ngại đất nghèo
Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù.
Đến khi cả dân tộc lên đường ra trận, quyết giành lại độc lập tự do, thì tre cũng đứng thẳng hiên ngang bất khuất cùng chia lửa với dân tộc Việt , thậm chí “một cây chông cũng tiến công giặc Mỹ “, bởi “nòi tre đâu chịu mọc cong, chưa lên đã nhọn như chông lạ thường”.
Từ những giá trị vật chất bình dị thân quen, Nguyễn Khoa Điềm gắn dòng suy tưởng đến con người ngàn đời cư trú, lao động, chiến đấu trên mảnh đất Việt để giữ gìn tôn tạo mảnh đất thân yêu. Đó không ai khác là những người mẹ, người cha một đời kính trọng thuỷ chung, “thương nhau bằng gừng cay muối mặn”. Tình cảm chân thành ấy không phải là lớp son phấn với “sắc màu lộng lẫy, sáo ngữ ồn ào”, mà là những nét duyên như búi tóc mẹ bới sau đầu gọn gàng ý nhị, đủ để làm cho con tim xao xuyến khi gần nhau, và khi xa thì không bao giờ nguôi ngoai nhung nhớ, để rồi họ bật lên những câu ca dao nghe như muối xát tâm can “gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau” .
Nguyễn Khoa Điềm lại có một cách nhìn thấu triệt theo thời gian hao phí lao động để kết tinh một hạt gạo trắng trong. Nó phải trải qua bao nắng sương vất vả gieo cấy, xay giã, giần sàng.Thắm vào trong hạt gạo bé nhỏ ấy là mồ hôi vị mặn nhọc nhằn của giai cấp nông dân. Nhiều người chỉ biết hưởng thụ hững hờ mà quên đi lời dạy “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, nên Nguyễn Khoa Điềm đã khéo léo nhắc nhở chúng ta nhai hạt cơm dẻo nên nhớ đến công lao của người làm ra nó, để không làm họ buồn lòng phải cất lời nhắc nhở:
Ai ơi bưng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần.
Nguyễn Khoa Điềm thật tài tình, khi ông cụ thể hoá khái niệm đất nước trừu tượng lớn lao cả về chiều “thời gian đằng đẵng”, lẫn “không gian mênh mông” vào trong những hình ảnh nhỏ bé như hạt gạo, nhưng lấp lánh bao tầng ý nghĩa sâu sắc, có giá trị biểu trưng những nét bản chất và tinh hoa của dân tộc, của Đất Nước Việt Nam. Đề cập đến hạt gạo là nói đến nền kinh tế nông nghiệp đặc trưng, được quy định bởi điều kiện thổ nhưỡng thuận lợi của nước Việt. Nhân dân lao động gắn mình trong môi trường đất đai từ đời này qua đời khác, sẽ định hình nên những nét cốt cách của con người Việt . Họ yêu quý đất đến mức xem “Tấc đất tấc vàng”. Và vì vậy, họ sẵn sàng hiến thân vì non sông đất nước như Chế Lan Viên từng cảm xúc:
Ôi Tổ Quốc ta yêu như máu thịt
Như mẹ cha ta như vợ như chồng
Ôi Tổ Quốc nếu cần ta chết
Cho mỗi ngôi nhà ngọn núi con sông
( Sao chiến thắng )
Tính triết lý trong dòng suy tưởng của Nguyễn Khoa Điềm vừa sâu sắc vừa đầy sức thuyết phục. Chỉ vài dòng thơ ngắn và tinh tế, thi nhân đã đi đến một kết luận có tính khẳng định “Đất Nước có từ ngày đó …” và do nhân dân lao động tạo dựng nên, để cho chúng ta hôm nay được thụ hưởng hạnh phúc một cách cụ thể thiết thực, chứ không hề là một tình cảm thuần tuý mơ hồ đã thuộc về quá khứ.

-st-