Cảm nhận của anh/ chị về sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân từ tác phẩm Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài).

Bài làm

Tô Hoài – nhà văn của người dân miền núi. Những năm tháng lặn lội, thâm nhập vào cuộc sống của con người vùng cao đã để lại ấn tượng sâu sắc trong tâm hồn nhà văn. Những bản làng chìm trong sương với những người dân chân chất, thật thà . Những con người sống trong cảnh đời cơ cực đầy những bất công dưới xã hội cũ nhưng lòng vẫn cháy không nguôi khát vọng sống mạnh mẽ tựa như sức sống vững vàng của núi, của rừng. Phẩm chất tốt đẹp đó của con người vùng cao được Tô Hoài phản ánh qua khát vọng sống mãnh liệt của nhân vật Mị – nhân vật chính trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ vào đêm tình mùa xuân rộn ràng của núi rừng Tây Bắc.

Những tác phẩm của Tô Hoài thường thiên về diễn tả sự thật của cuộc sống đời thường. Chính ông đã từng tâm sự về quan điểm sáng tác của mình “Viết văn là một quá trình đấu tranh để nói ra sự thật. Đã là sự thật thì không tầm thường dù có phải đập vỡ những thần tượng trong lòng người đọc”. Sự thật trong đề tài, nội dung kết hợp với lối trần thuật hóm hỉnh cùng vốn từ vựng sinh động của một con người từng trải và những kinh nghiệm thực tế phong phú về phong tục, tập quán ở các vùng miền khác nhau đã làm nên nét sinh động, hấp dẫn trong văn phong Tô Hoài. Vợ chồng A Phủ là một trong ba truyện ngắn trong tập Tây Bắc được Tô Hoài sáng tác trong thời gian ông cùng bộ đội vào giải phóng Tây Bắc, sống cùng đồng bào dân tộc thiểu số trong 8 tháng. Thiên nhiên hùng vĩ của núi rừng, phong tục sinh hoạt của người dân đã để lại trong lòng Tô Hoài những cảm xúc mạnh mẽ. Vợ chồng A Phủ xoay quanh cảm hứng viết về nỗi khổ của người dân miền núi Tây Bắc dưới ách thống trị của chúa đất và thực dân. Từ đó phản ánh sự vận động trong nhận thức của tuổi trẻ vùng cao về con đường đấu tranh tư tưởng giải phóng cuộc đời mình. Cảm hứng ấy được hội tụ qua hình tượng nhân vật Mị – nhân vật chính của tác phẩm. Khi tiếp xúc với hình tượng nhân vật này, tôi thấy ở Mị có một sức lôi cuốn đặc biệt bởi trong cô có sự hòa hợp thống nhất hai nét tính cách trái ngược: Một cô Mị nhẫn nhục, tủi cực trong cuộc sống chịu nhiều đè nén, áp bức và một cô Mị âm ỉ sức phản kháng và ngày càng lớn dần lớn dần trở thành khát vọng sống tràn trề trong tâm hồn cô gái nghèo. Tất cả đã được Tô Hoài đặc tả qua diễn biến tâm trạng nhân vật trong đêm tình mùa xuân.

Theo lời kể của Tô Hoài và hồi ức của nhân vật Mị, người đọc ngược dòng thời gian tìm hiểu về cuộc đời Mị trước khi bị bắt về nhà Thống lí Pá Tra. Cũng như biết bao người con gái khác, Mị sinh ra và lớn lên giữa núi rừng Tây Bắc, cô mang trong mình những nét tính cách chất phác, hiền dịu như chính quê hương cô vậy. Nhưng số phận không may mắn khi gia đình Mị rất nghèo, nghèo đến mức cha mẹ cô vay nhà Thống lí một nương ngô mà cả đời vẫn chẳng thể trả hết. Dù vậy, Mị vẫn như một bông hoa rực rỡ nơi đại ngàn. Trong cô tràn trề sức sống lạc quan của tuổi trẻ “Cô uốn chiếc lá trên môi, thổi lá cũng hay như thổi sáo”. Vì thế mà “ Có biết bao người mê, ngày đêm thổi sáo đi theo Mị”. Cô sống với một thái độ đầy tự tin, lạc quan và khát khao hạnh phúc. Mị từng nói với cha “Con nay đã biết cuốc nương, làm ngô, con phải làm nương ngô trả nợ thay cho bố. Bố đừng bán con cho nhà giàu”. Câu nói chứa đựng niềm tin mạnh mẽ của cô vào tương lai, vào cuộc sống và vào chính bản thân mình. Lời nói ẩn chứa quan điểm, thái độ sống tích cực của Mị: thà sống cuộc sống lao động khổ cực, vất vả nhưng có tình yêu, hạnh phúc còn hơn chấp nhận giàu sang, nhung lụa mà không có tình yêu. Cuộc sống của cô gái này trước khi bước chân vào nhà Thống lí Pá Tra là cuộc sống đầy khát vọng, mạnh mẽ, đam mê của tuổi trẻ. Một cuộc sống bình dị, êm ả như bao người con gái khác giữa rừng núi quê hương.

Vậy điều gì đã khiến cho Mị thay đổi? Cô bị bắt về làm dâu nhà Thống lí Pá Tra – một gia đình giàu có nhất vùng. Về làm dâu nhà giàu mà Mị đâu có chút nào sung sướng! Thân phận cô chỉ là nàng dâu gạt nợ, là thân phận trâu ngựa. Những ngày đầu “ Suốt mấy tháng liền, đêm nào Mị cũng khóc”. Đấy là những giọt nước mắt tủi cực, cay đắng khi cô nhận thức: nhân phẩm, quyền làm người của mình bị chà đạp. Quãng thời gian mà “ đêm nào Mị cũng khóc” chính là quãng thời gian dài cô ép mình thử sống, thử cắn rang chịu đựng cuộc sống mất tự do đó nhưng rồi ý nghĩ “ăn lá ngón tự vẫn” đến với cuộc sống của Mị. Đây không phải là suy nghĩ mang tính bột phát đơn thuần mà ý nghĩ đó một lần nữa khẳng định: Mị không thể ép mình chấp nhận cuộc sống, chấp nhận thân phận của một nàng dâu gạt nợ. Suy nghĩ tìm đến cái chết chính là thái độ vùng vẫy, phản kháng, cự tuyệt đến tuyệt vọng của con người muốn giải thoát mình khỏi đắng cay. Người ta cảm nhận trong suy nghĩ và hành động của Mị chất chứa cả những nuối tiếc, những hoài vọng, những ước mơ về quãng đời trẻ trung, đầy ý nghĩa đã qua. Ngay trong cơn đau đớn tột cùng, tôi vẫn thấy ngời lên vẻ đẹp trong phẩm chất của người con gái ấy. Đau đớn, tuyệt vọng, thân mình chẳng tiếc nhưng còn cha già. Đạo hiếu thảo đã đưa bước chân Mị về quỳ lạy cha lần cuối đáp ơn nghĩa sinh thành. Nhưng rồi cũng chính từ lòng hiếu thảo, Mị lại nuốt tủi cực, cay đắng vào trong lòng quay trở lại nhà Thống lí Pá Tra, tiếp tục cuộc đời của một nàng dâu gạt nợ.

Khi cha chết, còn lại mình Mị cô đơn trước cuộc đời nhưng “ Mị không buồn nghĩ đến cái chết nữa”, “Ở lâu trong cái khổ, Mị cũng quen khổ rồi”. Người ta chỉ có thể quen với niềm vui mấy ai có thể quen với nỗi khổ. Sự đổi thay trong Mị là dấu hiệu cho thấy sức sống, sự phản kháng trong cô đang dần bị bào mòn, dần bị tê liệt. Cuộc sống của Mị giờ đây là cả một thái đô nhẫn nhục, cam chịu. Hằn sâu trong suy nghĩ của nàng dâu gạt nợ là sự chán chường “ Ta làm thân đàn bà, nó đã bắt ta về trình ma nhà nó rồi thì chỉ còn biết đợi ngày rũ xương ở đây thôi”. Sức mạnh thần quyền cùng sự mê tín tồn tại bao đời nơi đây đã trở thành phương tiện cho giai cấp thống trị lợi dụng, gắn chặt Mị vào kiếp sống tôi đòi, chẳng thể nào vùng vẫy ra được. Người đọc bị ám ảnh bởi chi tiết căn buồng nơi Mị ở “ kín mít, có một chiếc cửa sổ, một lỗ vuông bằng bàn tay. Lúc nào trông ra cũng chỉ thấy trăng trắng, không biết là sương hay là nắng. Căn buồng tựa như nấm mồ vùi chon tuổi xuân, giam cầm khát vọng, ước mơ của Mị. Vậy mà Mị nghĩ rằng “ mình chỉ ngồi trong cái lỗ vuông ấy mà trông ra, đến bao giờ chết thì thôi”. Hình ảnh người phụ nữ Mèo thẫn thờ ngồi trông ra bên ngoài, qua “cái lỗ vuông bằng bàn tay ấy” gợi cho tôi bao điều ai oán, xót xa cho kiếp sống nhẫn nhục, cam chịu của người phụ nữ trong xã hội dưới chế độ xưa. Thái độ sống của Mị chìm sâu trong sự vô cảm. Nỗi ám ảnh thần quyền và sức nặng cường quyền khiến cô gái trẻ trung, yêu đời là vậy giờ đây trở nên tê liệt về tinh thần. Lúc nào Mị cũng “cúi mặt, không buồn nghĩ ngợi nữa”, cô không còn cảm nhận được những gì đang diễn ra xung quanh mình. Khái niệm thời gian đối với người con gái này gắn với khái niệm về công việc “ Tết xong thì lên núi hái thuốc phiện, giữa năm thì giặt đay, xe đay, đến mùa thì đi nương bẻ bắp. Và khi đi hái củi, lúc bung ngô, lúc nào cũng gài một bó đay trong cánh tay để tước thành sợi. Bao giờ cũng thế, suốt năm suốt đời như thế.” Mị chẳng khác nào cỗ máy trong nhà Thống lí Pá Tra. Bao nhiêu năm tháng làm dâu nhà giàu nhưng Mị nào đâu có hòa hợp được với cuộc sống ấy. Cô luôn tách biệt với thế giới bên ngoài “ Mị lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa”. Cô thu mình lại. Trước uy quyền của giai cấp phong kiến, tinh thần cô hoàn toàn tê liệt. Đó chính là giá trị tố cáo mà Tô Hoài muốn lên án trong tác phẩm. Ông xót xa trước cảnh đời cam chịu của con người, phẫn nộ trước sự lộng hành của giai cấp cường quyền vùng cao. Điều đó làm nên tư tưởng nhân đạo sâu sắc của nhà văn. Tuy nhiên trong cách sống câm lặng và cô độc của Mị, dường như tôi vẫn nhận thấy một sức phản kháng âm ỉ. Nó như sức sống của một đống than hồng được phủ lên bởi lớp tro lạnh và chỉ chờ cơ hội đến sẽ bùng lên thành ngọn lửa phản kháng đấu tranh mãnh liệt.

Sức sống âm ỉ trong tâm hồn của Mị từng trỗi dậy mạnh mẽ trong đêm tình mùa xuân . Tô Hoài đã rất khéo léo đặt nhân vật vào một tình huống trữ tình: không khí đón xuân trên bản làng Tây Bắc. Đó là mùa xuân của thiên nhiên, của đất trời “Gió và rét rất dữ dội”. Xuân về trong “ cỏ gianh vàng ửng”. Xuân tưng bừng trong lòng người Tây Bắc “Những chiếc váy hoa phơi trên những mỏm đá xòe như những con bướm sặc sỡ”. Tiếng lòng rộn ràng của con người biểu hiện trong âm thanh hồn nhiên, náo nức của đám trẻ được mặc quần áo chơi Tết “ Những đứa trẻ đợi Tết chơi quay cười ầm trên sân trước nhà”. Đặc biệt, mùa xuân – mùa cua tình yêu của những lứa đôi hò hẹn, cảm xúc yêu đương của những chàng trai, cô gái Mèo được gửi gắm qua thanh âm của tiếng sáo gọi bạn thiết tha. Tiếng sáo tác động mạnh mẽ đến tâm hồn của Mị. Mỗi lần tiếng sáo xuất hiện là một lần cảm xúc trong Mị có sự chuyển đổi mạnh mẽ. Diễn biến tâm trạng đó được thể hiện sống động qua bút pháp khắc họa tâm lý của nhà văn Tô Hoài.

Tiếng sáo thứ nhất cất lên được nhà văn miêu tả “Ngoài đầu núi, lấp ló đã có tiếng ai thổi sáo gọi bạn đi chơi”. Đó là tiếng sáo của khách thể, tiếng sáo vang xa xa trong tiếng lòng của một chàng trai nào đó hướng về người mình yêu. Tiếng sáo vẳng đến tai Mị , đánh thức tâm hồn vốn ngủ yên bấy lâu của cô. Mị nghe tiếng sáo vọng lại “thiết tha, bổi hổi”. Lắng nghe tiếng sáo mà trái tim Mị bắt đầu rung lên những giai điệu mở đầu của khát vọng tình yêu “Mị nhẩm thầm bài hát của người đang thổi”. Cảm xúc sống dậy cùng ý thức về cuộc sống trở lại trong cô “Mị lén lấy hũ rượu, uống ực từng bát”. Uống hay chính là muốn nuốt những đắng cay, tủi cực trào dâng trong lòng. Tô Hoài đã khéo léo khi đặt Mị ở trạng thái của một người say. Say để mà quên đi những đắng cay trong thực tại. Say để hướng lòng mình đến kí ức tươi đẹp đã qua. Trạng thái này làm nền cho sự xuất hiện những cảm xúc tiếp theo đầy phức tạp của Mị.

Tiếng sáo thứ hai cất lên, không còn là tiếng sáo “lấp ló đầu núi” nữa mà giờ đây “Tai Mị văng vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng”. Đó là tiếng sáo của hiện thực khách quan hòa trong tiếng sáo của tâm tưởng, bắt đầu vang lên mơ hồ trong lòng Mị. Tiếng sáo gợi sống lại những kí ức về quãng thời gian đã qua của cô gái Mèo “Lòng Mị đang sống về những ngày trươc. Ngày trước Mị thổi sáo giỏi. Mùa xuan này Mị uống rượu bên bếp và thổi sáo. Mị uống chiếc lá trên môi, thổi lá cũng hay như thổi sáo. Có biết bao người mê ngày đêm thổi sáo đi theo Mị.” Kí ức sống dậy cùng với hình ảnh của cô Mị trẻ trung, bừng bừng sức sống. Lúc này, ở Mị xuất hiện một cuộc tương tranh dữ dội trong đời sống nội tâm: một bên là cô Mị trong quá khứ trẻ trung vừa thức dậy với một bên là cô Mị cam chịu, nhẫn nhục trong thực tại. Vì vậy, cảm xúc và hành động cua nàng dâu gạt nợ chất chứa đầy những mâu thuẫn. Xúc cảm khát khao của những đêm tình mùa xuân trỗi dậy nhưng bước chân Mị “từ từ bước vào buồng”. Tâm hồn Mị “thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm ngày trước”, trong khi đó “Mị lại ngồi xuống giường, trông ra cái lỗ vuông mờ mờ trăng trắng”. Ý thức về bản thân, về quyền sống, bình đẳng trỗi dậy “Mị  trẻ lắm. Mị vẫn còn trẻ. Mị muốn đi chơi” lại xuất hiện cùng lúc với những ý nghĩ muốn chết “Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này, Mị sẽ ăn cho chết ngay chứ không buồn nhớ nữa”. Mâu thuẫn trong nội tâm Mị là những giằng xé giữa một bên là sức sống trỗi dậy trong men say với một bên lại rất tỉnh táo cảm thức về thân phận trong thực tại. Ý nghĩ tự tử trở lại lần này xuất phát từ những cảm nhận cụ thể hơn, sâu sắc hơn về nỗi đau của con người, là sự nuối tiếc cuộc sống tự do của quá khứ. Tất cả làm nên giây phút tranh đấu quyết liệt của thế giới nội tâm nhân vật.

Vào thời khắc diễn ra cuộc đấu tranh nội tâm đầy phức tạp, bên tại Mị “tiếng sáo gọi bạn yêu vẫn lửng lơ bay ngoài đường”. Âm thanh tình yêu không còn được miêu tả bằng những từ ngữ gợi khoảng cách không gian “lấp ló, văng vẳng” mà được miêu tả bằng trạng thái “lửng lơ ngoài đường, rập rờn trong đầu Mị”. Phải chăng dó không còn là tiếng gọi tình yêu của khách thể mà là âm thanh thiết tha của lòng Mị, của những cảm xúc quá khứ dâng trào. Tiếng sáo thứ ba và thứ tư lần này như vỗ về, như thôi thúc, như giục giã cô đến hành động “Mị đến góc nhà, lấy ống mỡ, xắn 1 miếng bỏ vào đĩa đèn cho sáng”. Cô không còn chấp nhận bóng tối, không chấp nhận chìm đắm trong căn buồng kín mít. Mị thắp sáng căn buồng hay đang thắp sáng nghị lực, hy vọng trong lòng mình? “Mị cuốn lại tóc, với tay lấy cái váy hoa vắt ở trong vách”. Những động từ diễn tả hành động liên tiếp của người con gái Mèo được Tô Hoài sử dụng để khẳng định dáng vẻ dứt khoát, mạnh mẽ và ý thức quyết tâm đi chơi xuân của Mị. Ở giây phút này, Mị hoàn toàn lột xác: không còn đâu cô Mị như cái bóng vật vờ, âm thầm nữa mà là người phụ nữ Mèo nhanh nhẹn, hoạt bát, bừng bừng khát vọng sống và rạo rực đam mê của tuổi trẻ. Hành động này của cô gái là thái độ phản kháng chống lại cuộc sống không tự do, không tình yêu, không hạnh phúc. Đấy là sự phục sinh của tâm hồn vốn khô khan, cạn kiệt giữa đêm tình mùa xuân.

Tiếng sáo thứ năm được Tô Hoài miêu tả trong trạng thái đầy bi kịch của nhân vật: Mị bị A Sử trói. Sức sống mạnh mẽ trong tâm hồn người con gái Mèo vừa mới bừng lên lại bị thế lực phong kiến chà đạp, vùi dập một cách không thương tiếc. Trong Mị lúc này là cả sự đối lập gay gắt giữa thế giới trong tâm tưởng và thực tại. Tâm hồn Mị hoàn toàn tự do “Hơi rượu còn nồng nàn, Mị vẫn nghe tiếng sáo đưa Mị theo những cuộc chơi, những đám chơi”. Âm thanh tiếng sáo lần này là thanh âm bay bổng của tự do trong khi thể xác của cô bị A Sử trói “ Trói đứng vào cột nhà bằng cả một thúng sợi dây đay”, “Mị vùng bước theo tiếng sáo” tưởng như đang bức mình khỏi hiện thực tối tăm. Nhưng sợi dây trói thít vào chân Mị “tay chân đau không cựa được”. Nỗi đau thể xác kéo Mị trở về thực tại: không còn hơi rượu xuân, không còn tiếng sáo “chỉ còn nghe tiếng chân ngựa đạp vách”. Bi kịch phũ phàng khi sức sống tinh thần trỗi dậy cũng là lúc “Mị thổn thức nghĩ mình không bằng con ngựa”. Niềm khao khát tự do bắt gặp nỗi tủi hờn cay đắng bởi kiếp trâu ngựa. Ý thức về số phận hiển hiện trong Mị qua so sánh rất cụ thể “ không bằng con ngựa”. Bi kịch trong tâm hồn Mị giờ đây đẩy đến cao trào bởi con người ấy ý thức được thân phận khổ cực của mình ma không thể  nào thoát ra được nên càng chìm sâu trong bế tắc, đắng cay.

Đoạn văn miêu tả tâm trạng Mị trong đêm hội mùa xuân là đoạn văn hay, xúc động nhất trong toàn bộ tác phẩm. Nghệ thuật khắc họa tâm lý nhân vật được Tô Hoài kết hợp nhiều bút pháp khác nhau: miêu tả ngoại cảnh tác động đến thế giới nội tâm, sử dụng thủ pháp tương phản giữa quá khứ và thực tại, giữa thế giới nội tâm và hiện thực đắng cay. Đặc biệt Tô Hoài vận dụng ngôn ngữ nửa trực tiếp để khắc họa sinh động những thay đổi trong nội tâm nhân vật. Điều đó khiến nhân vật của ông hiện lên sinh động, hấp dẫn như chính con người thực ngoài đời.

Đoạn văn thấm đượm chất thơ trong tư tưởng nhân đạo của Tô Hoài: đồng cảm với những khát vọng tự do trong tâm hồn con người, xót xa khi ý thức về quyền sống của con người bị vùi dập và lên án tội ác của tầng lớp thống trị đối với số phận con người lương thiện nơi đây.

Gấp lại những trang sách mà dư âm về nhân vật Mị, về cô gái Mèo với sức sống mãnh liệt trong đêm tình mùa xuân, về số phận đáng thương của người dân dưới xã hội phong kiến đương thời vẫn còn in đậm trong tâm hồn tôi. Mị hay Vợ chồng A Phủ mãi là những rung động sâu sắc mà Tô Hoài để lại nơi người đọc.

-st-