KĨ NĂNG VIẾT ĐOẠN VĂN – Luyện thi vào lớp 10

KĨ NĂNG VIẾT ĐOẠN VĂN

Đoạn văn là đơn vị trực tiếp tạo nên văn bản, bắt đầu từ chỗ viết hoa lùi đầu dòng, kết thúc bằng dấu chấm xuống dòng và thường biểu đạt một ý tương đối hoàn chỉnh. Đoạn văn thường do nhiều câu tạo thành.
Đoạn văn thường có từ ngữ chủ đề và câu chủ đề. Từ ngữ chủ đề là các từ ngữ được dùng làm đề mục hoặc các từ ngữ được lặp lại nhiều lần ( thường là chỉ từ, đại từ, các từ đồng nghĩa ) nhằm duy trì đối tượng được biểu đạt. Câu chủ đề mang nội dung khái quát, lời lẽ ngắn gọn, thường đủ hai thành phần chính và đứng đầu hoặc cuối đoạn văn ( hay còn gọi là câu chốt ). Các câu trong đoạn văn có nhiệm vụ triển khai và làm rõ chủ đề của đoạn bằng các phép diễn dịch, quy nạp, song hành,…
Khi chuyển từ đoạn này sang đoạn khác, cần sử dụng các phương tiện liên kết để thể hiện quan hệ ý nghĩa của chúng. Có nhiều phương tiện liên kết trong đoạn văn : dùng từ ngữ có tác dụng liên kết, quan hệ từ, địa từ, chỉ từ, các cụm từ thể hiện ý liệt kê, so sánh, đối lập, tổng kết, khái quát… và dùng câu nối trong đoạn văn. Đoạn văn liên kết nhằm mục đích tạo sự liền mạch một cách hợp lí, tạo tính chỉnh thể cho văn bản.
Khi viết đoạn văn, trong bài văn nghị luận cần lưu ý những điểm sau:
+Tùy theo nhiệm vụ, các đoạn văn được chia làm : đoạn giới thiệu, đoạn nghị luận, đoạn minh họa, đoạn chuyên tiếp, đoạn tiểu kết, đoạn tổng kết.
+ Cũng do nhiệm vụ khác nhau nên vị trí các đoạn khác nhau. Đoạn giới thiệu thường đứng ở đầu bài văn ( đoạn mở bài ). Đoạn nghị luận, đoạn minh họa đứng giữa ( thân bài) bài văn, giữa các phần của bài. Đoạn chuyển tiếp, đứng ở ranh giới giữa các phần của bài,của các đoạn kia. Đoạn tổng kết nằm ở cuối bài văn( kết bài ).
Mỗi loiaj đoạn có một cấu tạo riêng với một mô hình cơ bản của những biến thể. Mô hình cơ bản của đoạn văn nghị luận là diễn dịch.Diễn dịch là đoạn có câu chứa nội dung thông tin chung, khái quát của cả đoạn ( thường là một luận điểm lớn hoặc nhỏ ) đứng ở vị trí đầu đoạn ( câu này gọi là câu chủ đề ), các câu tiếp theo dẫn giải, triển khai nội dung của câu chủ đề. Câu chủ đề thông thường là một câu, song cũng có khi là hai hoặc ba câu. Về mặt cấu tạo ngữ pháp, câu chủ đề thường là câu đơn,có đủ chủ ngữ, vị ngữ.
Khi viết đoạn văn nghị luận cần chú ý những yêu cầu sau đây:
 Bước 1: Xác định ý của đề bài
 Bước 2: Xác định câu chủ đề
 Bước 3: Sử dụng phép liên kết và cách dùng từ trong đoạn văn nghị luận
Trong văn nghị luận muốn chuyển đoạn,liên kết đoạn người ta có thể dùng các quan hệ từ, dùng từ ngữ liệt kê,dùng từ ngữ thể hiện ý tổng kết…Ngoài ra còn sử dụng câu nối để liên kết đoạn văn.
Đoạn văn thường có ba phần:
– Phần mở đoạn: viết những câu dẫn dắt là những câu liên quan đến vấn đề chính sẽ nêu.
– Phần giữa đoạn: nêu vấn đề chính sẽ bàn trong thân bài tức là luận đề. Vấn đề chính này có thể đã chỉ rõ,có thể người viết tự rút ra, tự khái quát.
– Phần kết đoạn : nêu phương thức nghị luận và phạm vi tự luận sẽ trình bày.
Phần này đề bài thường xác định sẵn. Người viết chỉ giới thiệu hoặc ghi lại đoạn trích, câu trích ở đầu bài.
Đoạn văn thân bài trong bài văn nghị luận cũng có ba phần:
– Phần mở đoạn : nêu luận điểm chính của đoạn.
– Phần phát triển đoạn: triển khai luận điểm chính thành các luận điểm nhỏ hoặc các lí lẽ,dẫn chứng để thuyết phục người đọc.
– Phần kết đoạn: có nhiệm vụ kết đoạn văn, nhấn mạnh ý chính và chuyển sang đoạn văn tiếp theo.
Viết đoạn văn kết bài.
Đoạn văn kết bài trong bài văn nghị luận thường nêu ý khái quát, có tính chất tổng kết,đánh giá. Có thể giới thiệu bốn cách kết bài sau :
Thứ nhất: tóm lược ( tóm tắt quan điểm, nội dung đã nêu ở thân bài).
Thứ hai: phát triển (mở rộng thêm vấn đề đặt ra trong đề bài).
Thứ ba: vận dụng ( nêu phương hướng, bài học áp dụng phát huy hay khắc phục vấn đề nêu trong bài văn )
Thứ tư: liên tưởng ( mượn ý kiến tương tự – những ý kiến có uy tín – để thay cho lời tóm tắt của người làm bài ).
Hướng dẫn cách mở bài nghị luận
Có 2 cách làm bài cơ bản:
+ Mở bài trực tiếp: Đi thẳng vào vấn đề cần nghị luận, không câu nệ câu chữ, ý tưởng.
Ưu điểm: thường nêu ra được vấn đề một cách trực tiếp nhất và rõ ràng nhất.
Hạn chế: không có cảm xúc,ít khi có được sự mềm mại, uyển chuyển, linh hoạt, khơi gợi mà một mở bài cần có và nên có. Mở bài như một lời mở đầu nếu không hấp dẫn người đọc thì sẽ không có hứng khởi để đọc tiếp phần tiếp theo.
+ Mở bài gián tiếp: bắt đầu từ một khía cạnh liên quan đến vấn đề cần nghị luận. Từ đó người viết dẫn dắt một cách khéo léo và có liên kết đến vấn đề chính mà đề bài yêu cầu.
Có 4 cách mở bài theo lối gián tiếp: Diễn dịch, quy nạp, tương liên, đối lập.
Diễn dịch: nêu những ý kiến khái quát về vấn đề đặt ra trong đề bài rồi mới bắt đầu vào vấn đề ấy.
Quy nạp: nêu những ý nhỏ hơn vấn đề đặt ra trong đề bài rồi mới tổng hợp lại vấn đề cần nghị luận.
Tương liên: nêu lên một ý giống như ý trong đề rồi bắt sang vấn đề cần nghị luận. Ý được nêu ra có thể là một câu tục ngữ, ca dao, danh ngôn, một nhận định hoặc chân lí phổ biến…
Đối lập: nêu những ý kiến trái ngược với ý trong đề bài rồi lấy đó làm cớ chuyển sang vấn đè cần nghị luận.
Nguyên tắc làm mở bài:
+ Cần nêu đúng vấn đề đặt ra trong đề bài: nếu đề bài yêu cầu giải thích, chứng minh, phân tích hay bình luận một ý kiến thì phải dẫn lại nguyên văn ý kiến đó trong phần mở bài.
+ Chỉ được phép nêu những ý khái quát, tuyệt đối không được lấn sang phần thân bài, giảng giải minh họa hay nhận xét ý kiến trong phần thân bài.
+ Để không tốn thời gian làm phần mở bài trong các kì thi, cần chuẩn bị sẵn một số hướng mở bài cho từng dạng đề.
Ví dụ:
Câu hỏi: Phân tích hình tượng Đất Nước trong 9 câu thơ đầu trong đoạn trích Đất Nước ( Trường ca “ Mặt đường khát vọng”) của Nguyễn Khoa Điềm.
Các cách mở bài:
+ Mở bài trực tiếp: Nguyễn Khoa Điềm là nhà thơ trưởng thành trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Ông từng là Bộ trưởng Bộ văn hóa thông tin, nay đã nghỉ hưu. Các tác phẩm tiêu biểu: Đất ngoại ô, trường ca Mặt đường khát vọng. Đất nước được trích từ chươngV trường ca Mặt đường khát vọng được hoàn thành ở chiến trường BìnhTrịThiên năm 1971, viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ miền Nam xuống đường tranh đấu hòa hợp với cuộc kháng chiến của dân tộc. Đoạn thơ sau đã để lại dấu ấn về nội dung và nghệ thuật sâu sắc nhất.
+ Mở bài gián tiếp:
Diễn dịch: Đất Nước từ lâu đã là nguồn cảm hứng bất tận của thơ ca nói riêng và nghệ thuật nói chung. Nếu như các nhà thơ cùng thời thường chọn điểm nhìn về Đất Nước bằng những hình ảnh kỳ vĩ, mỹ lệ hay cảm hứng về lịch sử qua các triều đại thì Nguyễn Khoa Điềm lại chọn điểm nhìn gần gũi, quen thuộc bình dị để miêu tả về Đất Nước. Đến với đoạn trích Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm ta như đứng trước muôn màu văn hóa, truyền thống, phong tục tươi đẹp vô ngần. Vẻ đẹp ấy được hiện lên sâu sắc nhất qua chín câu thơ đầu.
Quy nạp: Có mối tình nào hơn Tổ quốc? Ngay trong những ngày đầu Cách mạng tháng Tám, nhà thơ Trần Mai Ninh đã viết say sưa như thế. Chất chứa trong lòng nhiệt huyết yêu nước, Nguyễn Khoa Điềm đã truyền lửa cho thế hệ trẻ những năm chống Mỹ bằng việc khắc họa vẻ đẹp bình dị và hào hùng của mảnh đất Việt. Đất Nước sinh thành từ những ngày xửa ngày xưa, từ miếng trầu bây giờ bà ăn lúc dân mình biết trồng tre mà đánh giặc.
Tương liên: Chúng ta đã bắt gặp đất nước chìm trong đau thương, mất mát qua thơ Hoàng Cầm; gặp đất nước đang đổi mới từng ngày qua thơ Nguyễn Đình Thi, một quê hương với những kỉ niệm tuổi thơ qua thơ Giang Nam. Nhưng có lẽ đất nước được nhìn từ nhiều khía cạnh, đầy đủ và trọn vẹn nhất qua bài thơ Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm. Hình hài đất nước từ khi được sinh ra cho đến khi phải trải qua bao nhiêu sóng gió chiến tranh được tái diễn sinh động qua một hồn thơ tinh tế, phóng khoáng của Nguyễn Khoa Điềm. Tác giả nhìn đất nước từ nhiều khía cạnh, trải qua bao nhiêu thăng trầm của lịch sử. Đất nước là tên gọi thiêng liêng , bình dị nhưng chất chứa bao nhiêu ngọn nguồn cảm xúc của chính tác giả.

-st-