Phân tích bài thơ Đồng chí của Chính Hữu

Bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu là một tuyệt phẩm ca ngợi hình ảnh người lính nơi chiến trường. Bài thơ hiện lên như một bức tranh tuyệt đẹp vừa mang nét oai hùng, vừa lãng mạn trữ tình. Đề tài người lính không phải đề tài mới mẻ nhưng với tác giả Chính Hữu hình ảnh người lính được khắc họa khá chân thực, ấn tượng thể hiện sự tà khốc của chiến tranh, của đạn bom.

7 câu thơ đầu – Cơ sở của tình đồng chí

Qua bảy câu thơ đầu bài thơ “Đồng chí” của tác giả Chính Hữu, người đọc thấy rõ được cơ sở của tình đồng chí. Trước hết, cơ sở của tình đồng chí được bắt đầu từ sự tương đồng về hoàn cảnh  xuất thân của những người lính:

“Quê hương anh nước mặn, đồng chua

Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá”

Hai câu thơ được mở đầu với cấu trúc sóng đôi rất chỉnh: “Quê hương anh” – “Làng tôi”, Chính Hữu đã khéo léo kết hợp với thành ngữ dân gian “nước mặn đồng chua” và cách nói vận dụng thành ngữ “đất cày lên sỏi đá” để giới thiêụ về hoàn cảnh xuất thân của những người lính. “Nước mặn đồng chua” là vùng đồng bằng ven biển bị nhiễm mặn, nhiễm phèn có trồng trọt, “Đất cày lên sỏi đá” – vận dụng từ thành ngữ “Chó ăn đá, gà ăn sỏi” là vùng đồi núi trung du bị ong hóa khó canh tác. Hai câu thơ vang lên một cách tự nhiên, mộc mạc, giản dị như một lời thủ thỉ tâm tình cho thấy họ là những chàng trai chân quê, những chàng trai áo nâu tình nguyện khoác áo lính lên đường bảo vệ Tổ Quốc. Tiếp theo, tình đồng chí thời kháng chiến chống Pháp có cơ sở từ cái chung nhiệm vụ, chung lý tưởng cao đẹp. “Anh” và “tôi” là cá thể riêng biệt nhưng tác giả lại dùng từ “đôi”, “đôi” cũng mang nghĩa là hai nhưng khẳng định mối quan hệ khăng khít, gần gũi, gắn kết chẳng thể tách rời. Họ là những người con đất Việt đến từ mọi miền của Tổ Quốc, họ là những người tưởng như “xa lạ” nhưng lại có sợi dây vô hình gắn kết họ, đó chính là lý tưởng CM, đó chính là nhiệm vụ bảo vệ Tổ Quốc.

“Súng bên súng, đầu sát bên đầu”

Câu thơ là hai hình ảnh đẹp, mang nghĩa thực và nghĩa biểu tượng, tác giả đã sử dụng điệp từ “súng” và “đầu” bên cạnh cặp tiểu đối gợi nhiều liên tưởng. Bên cạnh hình ảnh thực, “súng” còn là biểu tượng của chiến tranh, tượng trưng cho nhiệm vụ của người lính. “đầu” là biểu tượng, hoán dụ cho lý tưởng, chí hướng, Theo tiếng gọi thiêng liêng  của Tổ quốc thân yêu, các anh đã cùng tập hợp dưới quân kì, cùng kề vai sát cánh trong đội ngũ chiến đấu để thực hiện nhiệm vụ thiêng liêng của thời đại. Cuối cùng, cơ sở của tình đồng chí càng trở nên bền chặt trong sự chan hòa, chia sẻ những gian lao, thiếu thốn đời lính:

 “Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ”

 “Chung chăn” không chỉ nói lên hiện thực khắc nghiệt của chiến tranh, bảy câu thơ chỉ có một từ chung nhưng bao hàm nhiều ý nghĩa: họ chung cảnh ngộ, chung giai cấp, chung chí hướng, chung một khát vọng. Từ “đôi” xuất hiện lần thứ hai nhưng giờ đây họ đã là “tri kỉ”, “tri kỉ” là hiểu bạn như hiểu mình. Người đọc có thể thấy rõ được quá trình phát triển của tình đồng đội, đồng chí. Từ đầu, anh với tôi ở hai dòng thơ riêng biệt, tiếp đó “anh” và “tôi” hòa vào một dòng thơ và trở thành đôi, thành cặp, thành tri kỉ, và cuối cùng, họ trở thành những người đồng chí. Câu thơ thứ bảy lắng lại bằng một tiếng gọi thân thương, đó là một câu thơ đặc biệt, đó là câu cảm thán dùng để bộc lộ cảm xúc và là câu thơ bản lề. Hai tiếng “Đồng chí” thật giản dị, đẹp đẽ, là điểm hội tụ, là nơi kết tinh bao tình cảm đẹp, Hai tiếng “Đồng chí” như một nốt nhạc làm bừng sáng cả bài thơ, là kết tinh của một tình cảm Cách mạng mới mẻ chỉ có ở thời đại mới, nó vang lên như một phát hiện, một lời khẳng định, một tiếng gọi trầm xúc động từ trong tim, lắng đọng trong lòng người về hai tiếng mới mẻ, thiêng liêng ấy. Tóm lại, qua bảy câu thơ đầu bài thơ “Đồng chí”, người đọc thấy được cơ sở của tình đồng chí thời kháng chiến chống Pháp.

Hình ảnh đầu súng trăng treo trong bài thơ Đồng chí
HÌnh ảnh đầu súng trăng treo

10 câu thơ tiếp – Biểu hiện của tình đồng chí

Dường như Chính Hữu đã thổi vào linh hồn của bài thơ tình đồng chí keo sơn, gắn bó và một âm vang bất diệt làm cho bài thơ mãi trở thành một phần đẹp nhất trong thơ Chính Hữu. Hồi ức của những người lính, những kỉ niệm riêng tư quả là bất tận:

“Ruộng nương anh gửi bạn thân cày

Gian nhà không mặc kệ gió lung lay”

Cái chất nông dân thuần phác của những anh lính mới đáng quý làm sao! Đối với những người nông dân, ruộng nương, nhà cửa những thứ quý giá nhất. Họ sống nhờ vào đồng ruộng, họ lớn lên theo câu hát ầu ơ của bà của mẹ. Họ lớn lên trong những gian nhà không mặc kệ gió lung lay. Tuy thế, họ vẫn yêu, yêu lắm chứ những mảnh đất thân quen, những mái nhà thân thuộc…. Nhưng… họ đã vượt qua chân trời của cái tôi bé nhỏ để đến với chân trời của tất cả. Đi theo con đường ấy là đi theo khát vọng, đi theo tiếng gọi yêu thương của trái tim yêu nước. Bỏ lại sau lưng tất cả những bóng hình của quê hương vẫn trở thành nỗi nhớ khôn nguôi của mỗi người lính. Dầu rằng mặc kệ nhưng trong lòng họ vị trí của quê hương vẫn bao trùm như muốn ôm ấp tất cả mọi kỉ niệm. Không liệt kê, cũng chẳng phải lối đảo ngữ thường thấy trong thơ văn, nhưng hai câu thơ cũng đủ sức lay động hồn thơ, hồn người:

“Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính”

Sự nhớ mong chờ đợi của quê hương với những chàng trai ra đi tạo cho hồn quê có sức sống mãnh liệt hơn. Nhà thơ nhân hóa giếng nước gốc đa cũng có nỗi nhớ khôn nguôi với những người lính. Nhưng không kể những vật vô tri, tác giả còn sử dụng nghệ thuật hoán dụ để nói lên nỗi nhớ của những người ở nhà, nỗi ngóng trông của người mẹ đối với con, những người vợ đối với chồng và những đôi trai gái yêu nhau… Bỏ lại nỗi nhớ, niềm thương, rời xa quê hương những người lính chiến đấu trong gian khổ:

“Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh

Sốt run người vầng trán đầm mồ hôi

Loading...

Áo anh rách vai

Quần tôi có vài mảnh vá

Miệng cười buốt giá

Chân không giày”

Câu thơ chầm chậm vang lên nhưng lại đứt quãng, phái chăng sự khó khăn vất vả thiếu thốn của những người lính đã làm cho nhịp thơ Chính Hữu sâu lắng hơn. Đất nước ta còn nghèo, những người lính còn thiếu thốn quân trang, quân dụng, phải đối mặt với sốt rét rừng, cái lạnh giá của màn đêm… Chỉ đôi mảnh quần vá, cái áo rách vai, người lính vẫn vững lòng theo kháng chiến, mặc dù nụ cười ấy là nụ cười giá buốt, lặng câm. Tình đồng đội quả thật càng trong gian khổ lại càng tỏa sáng, nó gần gũi mà chân thực, không giả dối, cao xa… Tình cảm ấy lan tỏa trong lòng của tất cá những người lính. Tình đồng chí:

“Là hớp nước uống chung, nắm cơm bẻ nửa,

Là chia nhau một trưa nắng, một chiều mưa,

Chia khắp anh em một mẩu tin nhà,

Chia nhau đứng trong chiến hào chật hẹp

Chia nhau cuộc đời, chia nhau cái chết”

(Nhớ – Hồng Nguyên)

Một nụ cười lạc quan, một niềm tin tất thắng, một tình cảm chân thành đã được Chính Hữu cô lại chỉ với nụ cười – biểu tượng của người lính khi chiến đấu, trong hòa bình cũng như khi xây dựng Tố quốc, một nụ cười ngạo nghễ yêu thương, một nụ cười lạc quan chiến thắng…

3 câu thơ cuối – Bức tranh đẹp, biểu tượng về tình đồng chí

Qua ba câu thơ cuối bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu, người đọc cảm nhận được biểu tượng cao đẹp của tình đồng chí thời kháng chiến chống Pháp. Khép lại bài thơ, Chính Hữu viết:

“Đêm nay rừng hoang sương muối

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Đầu súng trăng treo”

Câu thơ đầu đã khái quát được cả không gian và thời gian chiến đấu của những người lính, đó là thời gian buổi đêm và không gian là vùng núi rừng Tây Bắc. Câu thơ gợi ra một cảnh tượng âm u, hoang vắng và lạnh lẽo. Không chỉ cái giá, cái rét cứ theo đuổi mà còn bao nguy hiểm đang rình rập người chiến sĩ. Giữa cái hoang lạnh đến rợn người ấy, người lính trong tư thế “đứng cạnh bên nhau” – sát cánh, vững chãi, làm mờ đi sự gian khổ, khắc nghiệt của cuộc chiến đấu. Từ “chờ” đã khẳng định rõ cái tư thế, cái tinh thần chủ động đánh giặc của họ. Rõ ràng khi những người lính đứng cạnh bên nhau , họ truyền cho nhau hơi ấm thì tình đồng chí đã trở thành ngọn lửa sưởi ấm họ để họ có sức mạnh vượt qua cái cái gian khổ, ác liệt, giá rét ấý. Tầm vóc của những người lính bỗng trở nên lớn lao anh hùng. Câu kết là một hình ảnh thơ rất đẹp, cánh cửa mở ra vừa thực, vừa mộng: “Đầu súng trăng treo”. Câu thơ gợi ra hai hình ảnh là “súng” và “trăng”, vừa xa cách nhau vời vợi, tưởng đối lập nhau nhưng lại hòa quyện về mặt ý nghĩa vừa cụ thể vừa giàu sức khái quát. Về ý nghĩa của hình ảnh này có thể hiểu: Đêm khuya, trăng tà, cả cánh rừng ngập chìm trong sương muối, trăng lơ lửng trên không, chiếu ánh sáng qua lớp sương mờ trắng, đục, bầu trời như thấp xuống, trăng như sà xuống theo; trong khi đó người chiến sĩ khoác súng trên vai, đầu súng hướng lên trời cao và trăng như treo trên đầu súng. Súng và trăng cũng chính là một cặp đồng chí, làm nổi bật thêm vẻ đẹp cho những người đồng chí đang trong tư thế sẵn sàng chiến đấu kia. Nếu súng là chiến sĩ thì trăng là thi sĩ, súng là biểu tượng cho chiến tranh thì trăng là hòa bình, súng là chất thép thì trăng là chất thơ.  Sự kết hợp hai yếu tố hiện thực và lãng mạn đã tạo nên cái đẹp độc đáo cho hình tượng thơ trong vườn thơ cách mạng. Tóm lại, qua ba câu thơ cuối bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu, người đọc đã thấy được biểu tượng cao đẹp của tình đồng chí.

-st-

Loading...