Ôn tập tác phẩm Vội vàng – Xuân Diệu

I. 13 câu đầu:

1. Ý tưởng táo bạo và lãng mạn của nhà thơ trước cuộc đời tươi đẹp:

“Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi.”

* Đoạn thơ đầu hiện lên với hình ảnh Xuân Diệu đang lo âu trước sự phai tàn của cái đẹp,“sợ” sắc màu “nhạt mất”, “sợ” hương thơm “bay đi” bởi ông vô cùng trân trọng vẻ đẹp của cuộc sống.
* Điệp ngữ “Tôi muốn” xuất hiện hai lần với mục đích:
+ Thể hiện khao khát lưu giữ hương sắc cuộc đời đang nồng cháy và rạo rực trong tâm hồn thi sĩ.
+ Nó cũng khẳng định cái tôi trữ tình của nhà thơ, một cái tôi dám đứng lên bộc bạch ước muốn của bản thân, dù những ước muốn ấy hết sức phi lý và quá tầm với. Đây chính là một trong những cái “mới” của “Nhà thơ mới nhất trong những nhà thơ mới” (1), nó trái ngược hoàn toàn với tính phi ngã của văn học trung đại.
* Những động từ “tắt nắng”, “buộc gió” cho thấy:
+ Khát khao đoạt quyền tạo hóa, ngăn lại dòng chảy của thời gian của Xuân Diệu không chỉ lãng mạn, mà còn ngông cuồng, táo bạo.
+ Những mong ước mãnh liệt của thi sĩ xuất phát từ tình yêu da diết với cuộc sống và cái tôi say mê trần thế.
* Giọng điệu trong bốn câu đầu bài mang âm điệu tình yêu tha thiết và mạnh mẽ. Cảm nhận sâu hơn, ta thấy trong lời thơ còn có cả sự tiếc nuối trong những chữ “đừng” đầy day dứt.

2. Bức tranh thiên đường trần thế qua cảm nhận tuyệt vời của Xuân Diệu:

“Của ong bướm này đây tuần tháng mật
Này đây hoa của đồng nội xanh rì
Này đây lá của cành tơ phơ phất
Của yến anh này đây khúc tình si
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi
Mỗi buổi sớm thần Vui hằng gõ cửa
Tháng Giêng ngon như một cặp môi gần.”

* Điệp ngữ “này đây” lặp lại trong năm câu thơ liên tiếp đã bộc lộ dụng ý nghệ thuật của tác giả:
+ Âm hưởng thơ vui tươi như bản hòa ca rộn ràng.
+ Tác giả trầm trồ ngạc nhiên khi được chiêm ngưỡng vẻ đẹp cuộc sống.
+ “Này đây” như lời giới thiệu, lời mở khi Xuân Diệu miêu tả về một loạt những hình ảnh thiên nhiên sinh động.
* Biện pháp liệt kê cùng trường từ vựng thiên nhiên với những từ “ong bướm”, “hoa”, “đồng nội”, “lá”, “cành tơ”, “yến anh”, “ánh sáng“,… giúp người đọc hình dung ra bày tay kì diệu của tạo hóa reo rắc trên mảnh đất trần thế những gì tinh tú và tươi tốt, trong lành, đẹp đẽ nhất.
* Phải, thiên nhiên trong thơ Xuân Diệu đang ở độ xuân sắc nhất. Chúng được đặt trong “tuần tháng mật” ngọt ngào và trọn vẹn, được thả trên những đồng cỏ mướt xanh, những chiếc lá tơ non mơn mởn, những chú chim hót bản tình ca da diết nhất. Mẹ thiên nhiên tạo ra cảnh vật, còn thơ Xuân Diệu tưới sức sống lên cảnh vật.
* Bức tranh thiên nhiên căng tràn nhựa sống ấy được vẽ nên bởi màu sắc, ánh sáng, thậm chí cả hương thơm và thanh âm. Điều này cho thấy để miêu tả sự sống động của thiên đường trần thế mà Xuân Diệu ngợi ca và yêu mến, ông đã vận dụng tất cả giác quan, từ thị giác để nhìn hình thái xinh đẹp đến thính giác để lắng nghe nhịp điệu thiên nhiên,…
* Tất nhiên, thiên nhiên của thi sĩ không chỉ đẹp, giàu sức sống mà còn vô cùng tình tứ. Mọi sự vật đều có đôi, có lứa, gắn bó, hòa quyện. Những cây cỏ, chim chóc cũng có linh hồn, cảm xúc, cũng nồng nhiệt yêu đương. Từ đó ta kết luận được Xuân Diệu đã dùng cả linh hồn tinh tế, sâu sắc của mình để hòa vào đắm chìm cùng thiên nhiên.
* Bức tranh của Xuân Diệu không chỉ có thiên nhiên, mà còn có cả con người. Tác giả dùng biện pháp so sánh để ví von tia nắng ban mai ấm áp với những ánh nhìn long lanh, lấp lánh từ sau rèm mi kiều diễm của người thiếu nữ xuân thì. Đây lại là một điểm mới nữa trong thơ Xuân Diệu: đặt con người làm chuẩn mực cái đẹp, rất khác với quan niệm thẩm mĩ của người xưa – thiên nhiên là thước đo của sự hoàn mĩ: “Làn thu thủy nét xuân sơn/ Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh” (2).
* Một lần nữa tác giả đề cao vẻ đẹp của con người: “Tháng Giêng ngon như một cặp môi gần.” Biện pháp tu từ so sánh kết hợp chuyển đổi cảm giác miêu tả cái đẹp của tháng Giêng hấp dẫn như đôi môi người con gái đỏ mọng và căng đầy sức sống. Tháng Giêng từ một khái niệm trừu tượng đã được hữu hình hóa khi ví với vẻ đẹp mong manh, quyến rũ của con người ở tuổi trẻ đẹp nhất, xuân sắc nhất. Qua đó, ta thấy bên cạnh các giác quan và tâm hồn, nhà thơ còn vận dụng trí tưởng tượng phong phú để vẽ nên bức họa thiên nhiên mùa xuân giàu sức gợi.
* Chính vì cảm thấu được cái đẹp đa dạng và muôn màu của cuộc đời, tác giả mới tận hưởng được trọn vẹn niềm hạnh phúc: “Mỗi buổi sớm thần Vui hằng gõ cửa”. Vị thần nào đã ngày ngày đem niềm vui và hạnh phúc đến trước cửa nhà như món quà cho thi sĩ? Đó là kết tinh của trí tưởng tượng vô biên và lòng yêu cuộc sống hòa với cảm nhận có chiều sâu của Xuân Diệu.

3. Thi sĩ giật mình tiếc nuối:

“Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa.
Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.”

* Dấu chấm câu không tùy tiện xuất hiện giữa hai vế “Tôi sung sướng” và “vội vàng một nửa”. Cấu trúc câu đặc biệt này nhấn mạnh và tách biệt cảm xúc của nhà thơ. Ông càng sung sướng đón chào cái đẹp và niềm vui cuộc sống bao nhiêu thì càng nuối tiếc và mong muốn ghìm giữ nó bấy nhiêu.
* Câu thơ sau mang hình ảnh ẩn dụ: mùa hạ – tượng trưng cho những năm tháng sau này, mùa xuân – hiện tại, tuổi trẻ tươi đẹp. Nhà thơ không đợi những cơn mưa rào mùa hạ đến rồi mới nhớ mưa phùn lất phất bay của mùa xuân. Ông tiếc mùa xuân, tiếc những tháng ngày trẻ trung, căng tràn nhựa sống ngay khi nó còn đang diễn ra.
* Hai câu thơ chính là nỗi buồn, hụt hẫng của con người biết quý trọng thời gian, thấu sự trôi chảy của dòng đời. Đây cũng là con người đưa ra quan niệm sống “vội vàng” – sống quấn quít, chạy đua với thời gian, trân trọng và gìn giữ từng giây từng phút của cuộc đời quý giá này.

Loading...

II. 16 câu tiếp:

III. 10 câu cuối:

* Tóm tắt phần trên của bài thơ: Trên nền khung cảnh thiên nhiên tươi sáng, hài hòa nổi bật lên vẻ đẹp của con người. Tất cả khơi dậy tình yêu cuộc sống và đánh thức nỗi lo âu khắc khoải của tác giả. Qua cái nhìn thấu suốt dòng chảy thời gian và ý thức về sự hữu hạn của đời người và tuổi trẻ, thi nhân sớm cảm nhận được nỗi đau chia phôi, phai tàn của vạn vật, từ đó, ông sống vội vàng, tiếc nuối và níu kéo tháng ngày.

1. Sống với tốc độ phi thường:

“Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm.”

* Sự hối hả, nhịp sống thôi thúc trong đoạn đầu tác phẩm “Tôi sung sướng nhưng vội vàng một nửa” được nhắc lại ở đoạn cuối trong một dòng thơ đặc biệt tạo bởi hai câu, một câu cảm thán: “Mau đi thôi!” Câu thơ như tiếng gọi gấp rút đầy giục giã, đánh thức cảm nhận thời gian và cổ vũ tình yêu cuộc sống nơi người đọc.
* Tuy “mùa chưa ngả chiều hôm” nhưng như nhìn ra được mấy chục năm ngắn ngủi của đời người quá nhỏ bé trước tuổi thọ của đất nên thi nhân đã lo lắng, nỗi niềm này cũng được thấy trong phần trên của bài thơ: “Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.”
* Chính vì lo lắng, tiếc nuối như vậy nên Xuân Diệu đã nhiều lần thôi thúc: “Mau với chứ! Vội vàng lên với chứ/ Em, em ơi tình non sắp già rồi.” (3) hay “Gấp đi em anh rất sợ ngày mai/ Đời trôi chảy tình ta không vĩnh viễn.” (3)
* Ta thấy được sau những lời giục giã của Xuân Diệu là tình yêu cuộc sống mãnh liệt, sức sống tràn trề và cái nhìn thấu suốt dòng chảy thời gian của ông.

2. Sống với cường độ sâu sắc, mãnh liệt:

“Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
Và non nước, và cây, và cỏ rạng,
Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng
Cho no nê thanh sắc của thời tươi;
– Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!”

* Mở đầu bài thơ, tác giả xưng “tôi” để khẳng định cái tôi, giờ đây, “tôi” đã trở thành “ta”, cái tôi cá nhân đã trở thành cái ta chung của nhân loại. Điều này cho thấy, lời nhắc không chỉ cần sống nhanh, mà còn phải sống sâu không chỉ là lời thi nhân nhắc nhở bản thân mình mà còn để truyền đạt và hướng tới mỗi con người.
* Thi nhân say mê trước cuộc sống tươi đẹp có “mây đưa và gió lượn”, “cánh bướm với tình yêu”, “non nước, cây, cỏ rạng”,… bằng con mắt của một người say mê sự sống, trái tim của một thi nhân lãng mạn, vạn vật được nhuộm sắc màu quyến rũ đầy cuốn hút, được rót vào linh hồn và nhựa sống tươi mới. Thiên nhiên, cuộc sống hiện lên như một món điểm tâm bắt mắt mà con người làm thế nào cũng không thể hưởng thụ cho hết, cho trọn vẹn.
* Chính vì quá mê say cuộc sống, thi nhân đã liệt kê một loạt động từ mang sắc thái mạnh dần: “ôm”, “riêt”, “say”, “thâu”, thậm chí là “hôn”, “cắn”. Dường như dù có huy động mọi giác quan để thấm hút sự phong phú kì diệu của thiên đường trần thế, Xuân Diệu cũng không cảm thấy đủ. Ta có thể thấy, ông đang “tham lam” cảm thụ cuộc đời bằng cả vòng tay, cảm xúc, trái tim và tâm hồn như trong câu thơ: “Sống toàn tâm! toàn trí! sống toàn hồn!/ Sống toàn thân và thức nhọn giác quan/Và thức cả trong giấc nồng phải ngủ /Sống, tất cả sống, chẳng bao giờ đủ” (4)
* Chứng minh cho nỗi lòng ham sống không thể lấp đầy của Xuân Diệu là điệp ngữ “Tôi muốn” lặp lại nhiều lần. Không chỉ lột tả khao khát cháy bỏng được sống hết mình của ông, biện pháp nghệ thuật này còn tạo nên nhịp thơ dồn dập, nồng nàn, da diết, bộc lộ tình yêu, ham muốn, ước mong đang rạo rực chảy trôi tròng dòng máu của thi nhân.
* Do Xuân Diệu quá “tham lam”, hay do tình yêu cuộc sống quá mãnh liệt, do cuộc sống muôn màu muôn vẻ còn có quá nhiều điều tươi đẹp mà sáu mươi năm đời người không thể chiêm ngưỡng, cảm nhận hết mà thi nhân ước ao đắm say cả “mùi thơm”, “ánh sáng”, được no nên trong “thanh sắc của thời tươi”.
* Nhịp sống cuồng nhiệt của nhà thơ gần như chạm tới đỉnh điểm trong câu thơ kết với hình ảnh ẩn dụ: “Hỡi xuân hồng, Ta muốn cắn vào ngươi!”. Tác giả đã hữu hình hóa một khái niệm vô hình là mùa xuân. Ông gọi mùa xuân – hay chính là tuổi trẻ – quãng ngày ngắn ngủi tươi đẹp nhất cuộc đời là “xuân hồng” vừa miêu tả trạng thái tươi đẹp của xuân, vừa bày tỏ tình yêu, sự trân trọng, nâng niu thời gian quý báu. Mong ước sống trọn vẹn từng giây từng phút của thi nhân để biến cái hữu hạn của đời người thành cái vô hạn: “Thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt/ Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm.” (5)
* Tình yêu nồng nhiệt và sức sống luôn cháy trong hồn thơ của Xuân Diệu còn được ông gìn giữ tới những phút cuối cuộc đời: “Hãy để cho tôi được giã từ/ Vẫy chào cõi thực để vào hư/ Trong hơi thở trót dâng trời đất/ Cũng vẫn tình si đến ngất ngư.” (6)

* Chú thích:
(1) “Thi nhân Việt Nam” – Hoài Thanh
(2) “Truyện Kiều” – Nguyễn Du
(3) (5) “Giục giã” – Xuân Diệu
(6) “Thanh niên” – Xuân Diệu
(7) Không đề – Xuân Diệu

-st-

Loading...