Đáp án đề thi thử THPT Quốc gia – đề số 6

Phần Câu Nội dung Điểm
I

 

1 Phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ là biểu cảm 0.25
2 Nội dung chính: Thể hiện cảm động  tình mẫu tử thiêng liêng: tình mẹ dành cho con và tình cảm yêu thương, kính trọng, biết ơn chân thành của người con đối với mẹ 0,25
3 Những biện pháp tu từ chủ yếu được sử dụng trong câu hai câu thơ: Nhân hóa (bí và bầu cũng “lớn”), đối lập (Lớn lên, lớn xuống); hoán dụ (tay mẹ)

Tác dụng: (“Bí và bầu” là thành quả lao động “vun trồng” của mẹ; “Con” là kết quả của sự sinh thành, dưỡng dục, là niềm tin, sự kỳ vọng của mẹ) => Nhấn mạnh sự hi sinh thầm lặng và công lao trời bể của mẹ, đồng thời thể hiện nỗi thấu hiểu và lòng biết ơn sâu sắc của nhà thơ đối với mẹ.

0,5
4 Chủ đề: Cảm xúc của tác giả trước nỗi niềm lo âu, hoảng hốt khi nghĩ ngày mẹ không còn mà mình chưa trưởng thành như lòng mẹ mong mỏi. 0,5
5 Đoạn văn được viết theo phương thức tự sự là chính. 0,25
6 Đoạn văn kể chuyện nhân vật Việt bị thương nặng trên chiến trường. Lần thứ tư tỉnh lại, Việt nghe tiếng súng của ta, nhớ về đồng đội và quyết tâm tìm về đơn vị. 0,25
7 Phép tu từ so sánh trong văn bản được thể hiện qua câu văn: Súng lớn và súng nhỏ quyện vào nhau như tiếng mõ và tiếng trống đình đánh dậy trời dậy đất hồi Đồng khởi.

Hiệu quả nghệ thuật: đem tiếng súng lớn, súng nhỏ của ta so sánh với tiếng mõ, tiếng trống, nhà văn gợi lại âm thanh quen thuộc đã từng gắn bó với nhân vật Việt khi anh đang cô độc và bị thương nặng giữa chiến trường, đồng thời là sống dậy tinh thần đồng khởi của nhân dân miền Nam trong những ngày đánh Mỹ. Qua đó, ta thấy được tình yêu quê hương, ý chí, nghị lực phi thường của nhân vật Việt.

0,5
8 Đối với nhân vật Việt, tiếng súng nghe thân thiết và vui lạ.

Bởi vì, đó là tiếng súng của đồng đội( gợi cho Việt nhớ về anh Tánh, anh Công,….) ; Việt muốn tiến về tiếng súng, tiến về tiếng súng còn là tiến về phía sự sống.

Tiếng súng nghe vui lạ, nó thôi thúc Việt tiếp tục chiến đấu- chiến đấu là niềm vui đối với Việt.

0,5
II 1 Viết một bài văn trình bày ý kiến về nhận định: Nghề nghiệp không làm nên sự cao quí cho con người mà chính con người mới làm nên sự cao quí cho nghề nghiệp

a, Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận Có đủ phần mở bài, thân bài, kết bài. Mở bài nêu được vấn đề. Thân bài triển khai được vấn đề. Kết bài kết luận được vấn đề.

3,0

 

 

 

0,25

b, Xác định đúng vấn đề nghị luận: Nghề nghiệp không làm nên sự cao quí cho con người mà chính con người mới làm nên sự cao quí cho nghề nghiệp 0,5
c, Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm, vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng, rút ra bài học nhận thức và hành động.

* Giải thích: Nghề nghiệp: là cách nói khái quát về ngành nghề, công việc của mỗi người trong xã hội.

-Cao quý: có giá trị lớn về tinh thần, rất đáng trân trọng.

à Ý kiến khẳng định mọi nghề nghiệp trong xã hội đều quan trọng; giá trị cao quý của nghề nghiệp là do con người quyết định chứ không phải do nghề nghiệp.

* Bàn luận:

– Khẳng định ý kiến đúng: Nghề nghiệp không làm nên sự cao quý cho con người.

+ Bản thân nghề nghiệp không làm nên sự cao quý của con người, sự cao quý ấy phải do tự thân con người làm nên trong trong quá trình nghề nghiệp của mình.

+ Trong xã hội không có nghề tầm thường, bất cứ nghề nào mang lại lợi ích cho cộng đồng đều dược xã hội trọng vọng, tôn vinh.

– Chính con người làm nên sự cao quý cho nghề nghiệp

+ Thước đo giá trị nghề nghiệp là hiệu quả và phẩm chất dạo đức của người lao động trong công việc.

+ Sự cao quý là do con người đem hết tài năng, sức lực ra để phục vụ mọi người.

* Bài học nhận thức và hành động:

– Cần chọn nghề phù hợp với năng lực, trình độ, sở trường của bản thân

– Cần nuôi dưỡng niềm say mê, tình cảm với nghề để có thể tận tâm cống hiến cho xã hội được nhiều nhất.

0,25

 

 

 

 

 

 

 

 

0,5

 

 

 

 

 

 

 

0,5

 

 

 

 

0,5

d, Sáng tạo: Có suy nghĩ sâu sắc, có sự diễn đạt mới mẻ, ấn tượng về vấn đề nghị luận. 0,25
e, Đảm bảo đúng chính tả, đúng ngữ pháp. 0,25
2  Viết bài văn trình bày cảm nhận  về vẻ đẹp của đoạn văn sau trong bài tùy bút Người lái đò sông Đà của nhà văn Nguyễn Tuân.

a, Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận Có đủ phần mở bài, thân bài, kết bài. Mở bài nêu được vấn đề. Thân bài triển khai được vấn đề. Kết bài kết luận được vấn đề.

4.0

 

 

0,25

b, Xác định đúng vấn đề nghị luận: Vẻ đẹp thơ mộng trữ tình của sông Đà qua đoạn văn thấm đẫm cảm xúc lãng mạn với nhiều liên tưởng độc đáo, phong phú, ngôn từ gợi cảm, gợi hình, giàu chất nhạc, chất thơ, chất họa. 0,5
c, Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm, vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng

*Giới thiệu vài nét về tác giả, tác phẩm và vấn đề nghị luận

– Người lái đò sông Đà là một tùy bút rất đặc sắc của Nguyễn Tuân rút từ tập Sông Đà. Hình ảnh con sông Đà với 2 đặc tính nổi bật là hung bạo và trữ tình được tác giả khắc họa đậm nét trong tùy bút.

– Khi miêu tả tính cách hung bạo của sông Đà, tác giả sử dụng những câu văn mang nhịp điệu dồn dập, kính thích. Nhưng khi ca ngợi dòng sông Đà trữ tình gợi cảm ông lại dùng những câu văn dài, êm ả, nghe như tiếng hát ngân nga. Văn của Nguyễn Tuân luôn chứa hai thái cực như thế, tiêu biểu là đoạn văn  từ “Thuyền tôi trôi…..dòng trên” (trích dẫn.)

* Vẻ đẹp của đoạn văn được thể hiện ở các ý:

– Nội dung của đoạn văn nói về vẻ thơ mộng của sông Đà ở quãng trung lưu.

+ Thác ghềnh lúc này chỉ còn lại trong nỗi nhớ. Thuyền tôi trôi…: câu văn mở đầu đoạn hoàn toàn là thanh bằng gợi cảm giác lâng lâng, mơ màng; kèm điệp ý: Thuyền tôi trôi lặng tờ, Thuyền tôi trôi… không bóng người, Thuyền tôi trôi… lững lờ” nhắc lại trùng điệp tạo chất thơ.

+ Thiên nhiên hài hòa mang vẻ trong trẻo nguyên sơ, kì thú: Cỏ gianh đồi núi đang ra những búp non, đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương.

+ So sánh bờ sông hoang dại như bờ tiền sử, hồn nhiên như nỗi niềm cổ tích tuổi xưa mở ra những liên tưởng về sự bát ngát, lãng mạn, hư hư thực thực của dòng sông.

+ Người với cảnh có sự tương giao, hư thực đan xen: Tiếng còi, con hươu ngộ ngẩng đầu nhìn và  hỏi ông khách sông Đà.

+ Cảnh làm cho vị tình nhân non nước sông Đà xúc động trong thực và mơ.

– Nghệ thuật của ngòi bút lãng mạn tài hoa, tinh tế: Nhà văn hiến cho độc giả hình ảnh sống động, ấn tượng sâu sắc:

+ Lấy động tả tĩnh: Cá quẫy đủ khiến ta giật mình.

+ Cái tĩnh hàm chứa sự bất ngờ bởi sự biến hóa liên tiếp: thuyền thả trôi, con hươu thơ ngộ vểnh tai, áng cỏ sương, tiếng còi sương, đàn cá dầm xanh quẫy vọt. Cảnh và vật đều ở trạng thái động, không chịu ép mình và đều mang hơi thở vận động của cuộc sống nhiều chiều.

– Nhà văn đã trải lòng mình với dòng sông, hóa thân vào nó để lắng nghe nhịp sống cuộc đời mới, để nhớ, để thương cho dòng sông, cho quê hương đất nước:

+ Thưởng ngoạn vẻ đẹp sông Đà, lòng tác giả dậy lên cảm giác liên tưởng về lịch sử, về tình cảm đối với cố nhân: nhắc tới đời Lí đời Trần.

+ Trước vẻ đẹp hoang dại nhà văn suy nghĩ về về tiếng còi tàu, cuộc sống hiện đại.

+ Trải lòng, hóa thân vào dòng sông trong đắm đuối của tình non sông đất nước: Nhớ thương hòn đá thác, lắng nghe giọng nói, trôi những con đò mình nở chạy buồm vải,…

* Đánh giá về giá trị

– Qua đoạn trích thấy  cảnh vật và con người gắn quyện với nhau chặt chẽ; thấy những đặc sắc của văn Nguyễn Tuân.

– Quý trọng tài năng và tấm lòng của con người suốt đời đi tìm cái đẹp, làm giàu có đời sống tinh thần của tất cả độc giả chúng ta

0,25

 

0,25

 

 

 

 

 

 

 

 

 

0,75

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

0,5

 

 

 

 

 

 

0,5

 

 

 

 

 

 

 

 

 

0,5

 

 

 

d, Sáng tạo: Có suy nghĩ sâu sắc, có sự diễn đạt mới mẻ, ấn tượng về vấn đề nghị luận 0.25
e, Diễn đạt: Đảm bảo không mắc lỗi chính tả, lỗi dùng từ, đặt câu… 0.25