Cảm nhận đoạn trích sau: “Những đêm mùa đông….lao chạy xuống dốc núi”. Liên hệ đoạn trích: “Ai cho tao lương thiện…vắng người qua lại” (“Chí Phèo” – Nam Cao). Chỉ ra điểm mới trong cảm hứng nhân đạo của Tô Hoài sau năm 1945.

HƯỚNG DẪN

I. MỞ BÀI: giới thiệu tác giả/tác phẩm/ dẫn vào đoạn trích.
II. THÂN BÀI
1. Khái quát
– Xuất xứ, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm “Vợ chồng A Phủ”.

2. Nội dung chính
2.1. Khái quát trước đoạn trích
Mị là cô gái trẻ đẹp, giàu tài năng của núi rừng Tây Bắc nhưng rồi món nợ cũ của
bố mẹ như sợi dây oan nghiệt trói mị vào nhà thống lý. Mị buộc phải làm dâu gạt nợ.
Cuộc sống ở nhà thống lý Pá Tra như một chốn địa ngục trần gian mà Mị là tên tù khổ
sai với bản án chung thân. Đêm tình mùa xuân năm ấy, sức sống trỗi dậy, Mị uống rượu,
thổi sáo, nhận thức được tuổi trẻ. Mị thèm đi theo những cuộc chơi những đám chơi.
Nhưng A Sử đã chặn đứng khát vọng đó của Mị bằng một thúng sợi đay, hắn trói Mị
vào cột nhà. Mị không cảm thấy bị trói, tâm hồn Mị vẫn đi theo tiếng gọi đêm tình.
Chính sức sống đêm tình năm ấy đã tạo điều kiện cho sự bừng tỉnh nhận thức và cháy
bùng lên ngọn lửa giải thoát cho A Phủ sau này.

Loading...

2.2. Cảm nhận vào đoạn trích
a. Đoạn văn mở đầu diễn tả tâm trạng của Mị trước đêm cởi trói cho A Phủ:
A Phủ vì đánh con quan nên bị phạt vạ trở thành nô lệ cho nhà thống lí Pá Tra. Mị và
A Phủ đồng cảnh ngộ: đều là thân phận nô lệ vì chính sách cho vay nặng lãi của bọn chủ
nô. Vì để hổ bắt mất một con bò nên A Phủ phải chịu trói, chờ chết. Cha con nhà thống
lí đã trói A Phủ vào cái cọc đóng ở giữa nhà bằng dây mây. A Phủ đang rơi vào tình
trạng: chết đau, chết đói, chết rét, phải chết.
Tâm trạng Mị lúc đầu là trạng thái VÔ CẢM: Mị trở lại với kiếp sống chai sạn,
băng giá, tê liệt về cả thể xác và tinh thần. Những gì xảy ra xung quanh, Mị không cần
biết, không đoái hoài, không quan tâm. Tâm hồn Mị như tê dại trước mọi chuyện kể cả
lúc ra sưởi lửa, bị: “A Sử đánh ngã xuống cửa bếp, hôm sau Mị vẫn thản nhiên ra sưởi
lửa như đêm trước”. Mị vô cảm với chính bản thân mình, không còn cảm nhận được nỗi
đau đớn của thể xác, không còn cảm nhận được sự nhục nhã về tinh thần. Thể xác bị chà
đạp, tinh thần bị lăng nhục, nhưng Mị vẫn dửng dưng. Khi Mị vô cảm với chính mình
cũng là lúc mà Mị chẳng còn thiết tha đến mọi thứ xung quanh. Mị vô cảm luôn với cả
đồng loại của mình:“nếu A Phủ là cái xác chết đứng đấy, cũng thế thôi”. Các từ ngữ
“thản nhiên”, “cũng thế thôi” cho thấy sự thản nhiên, vô tâm đến lạnh lùng, vô cảm đến
tàn nhẫn của Mị. Đắng cay cho Mị – cô đã đánh mất luôn cả tình thương, lòng nhân ái
mà bất cứ ở người phụ nữ nào cũng có. Mị chỉ biết, chỉ còn ở với ngọn lửa. Lửa cũng cô
đơn, Mị cũng cô đơn. Hai kẻ cô đơn ấy thức sưởi ấm cho nhau trong những ngày băng
giá.
b. Đoạn văn tiếp theo tác giả miêu tả tâm trạng Mị từ vô cảm đến đồng cảm:
Đề ra. Cảm nhận đoạn trích sau: “Những đêm mùa đông….lao chạy xuống dốc núi”.
Liên hệ đoạn trích: “Ai cho tao lương thiện…vắng người qua lại” (“Chí Phèo” –
Nam Cao). Chỉ ra điểm mới trong cảm hứng nhân đạo của Tô Hoài sau năm 1945.

Có nhà phê bình cho rằng: “Khi tình thương chạm vào trái tim thì cho dù sỏi đá cũng
thành châu lệ”. Quả đúng như vậy, dòng nước mắt của A Phủ đã đánh thức và làm hồi
sinh lòng thương người trong Mị: Chính nhờ ngọn lửa đêm ấy, Mị lé mắt trông sang và
nhìn thấy:“một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại” của A
Phủ. Dòng nước mắt ấy là nước mắt của kẻ đang hấp hối, nước mắt của một thân phận
nô lệ đang bất lực, tủi nhục trước số phận. Nước mắt A Phủ không chỉ chảy xuống đôi
gò má xạm đen của anh mà còn chảy vào cả trái tim băng giá của Mị. Trái tim vốn chỉ
còn biết giá băng lại được dòng nước mắt ấy của APhủ chạm đến. Và giọt nước mắt ấy
đã làm tan đi giá băng của trái tim Mị. Đã thức dậy trong Mị lòng thương người cùng
cảnh ngộ. Trái tim Mị quặn đau khi “Trông người lại ngẫm đến mình”. Mị chợt “nhớ lại
đêm năm trước A Sử trói Mị, Mị cũng phải trói đứng thế kia. Nhiều lần khóc, nước mắt
chảy xuống miệng, xuống cổ, không lau đi được”. Nhà văn không nói đến nỗi đau đớn
về thể xác của Mị, không nói nỗi tủi nhục của APhủ nhưng tất cả điều đó lại hiện lên tất
cả qua suy nghĩ của Mị. Mị đã cảm nhận nỗi đau của APhủ bằng chính nỗi đau của
mình. (Thầy Phan Danh Hiếu)
Từ đó Mị nhận thức rõ và căm thù sự độc ác của nhà Thống lí Pá Tra: Mị thốt
lên “Trời ơi, nó bắt trói đứng người ta đến chết, nó bắt mình chết cũng thôi, nó bắt trói
đến chết người đàn bà ngày trước cũng ở cái nhà này”. Mị nhận ra giá trị của con
người, giá trị được sống nhưng lại bị bắt chết. Từ nhận thức về thân phận con người, Mị
nguyền rủa cha con nhà thống lí “Chúng nó thật độc ác”. Khi một kẻ đang trong tình
trạng mất hết ý thức lại nhận ra nguyên nhân của cái khổ mà mình gánh chịu thì đúng là
một cuộc lội ngược dòng của ý thức. Chắc chắn, ý thức này sẽ trỗi dậy, sẽ phản kháng
mãnh liệt chứ không dừng lại ở đây.
Từ lòng thương người và lòng căm thù, Mị nhận ra sự độc ác và bất công. Mị
phản kháng mãnh liệt cả trong suy nghĩ và hành động: từ cảnh ngộ của mình và
những người đàn bà bị hành hạ ngày trước, đến cảnh đau đớn và bất lực của A Phủ trước
mắt, Mị nhận thấy “chúng nó thật độc ác”, thấy “người kia việc gì mà phải chết”. Đó là
sự nhận thức mang tính lý trí chứ không phải là cảm tính nữa. Mị độc thoại với chính
mình: “Cơ chừng này thì chỉ đêm mai là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải
chết. Ta là thân đàn bà, nó đã bắt ta về trình ma nhà nó rồi thì chỉ còn biết đợi ngày rũ
xương ở đây mà thôi… Người kia việc gì phải chết?” Đoạn văn có sự điệp đi điệp lại
một loạt từ “chết” như chính nỗi ám ảnh của Mị về cái chết. Và đặt mình cùng APhủ lên
bàn cân của số phận. Mị thấy, Mị có chết cũng là tất yếu vì Mị là đàn bà, Mị đã bị cúng
trình ma. Nghĩ đến APhủ, Mị thấy phi lí “người kia việc gì mà phải chết”. Trong suy
nghĩ ấy, Mị đã nghiêng hết phần sống của mình cho APhủ. Đó là tấm lòng nhân ái bao la
của cô gái vùng cao Tây Bắc. Mị trân trọng giá trị con người, mạng sống con người.
Lòng thương người thức dậy trong Mị và đang hình thành hành động. (Thầy Phan Danh
Hiếu)
Mị tưởng tượng rằng: “như có thể một lúc nào, biết đâu A Phủ chẳng đã trốn được
rồi, lúc ấy bố con Pá Tra sẽ bảo là Mị đã cởi trói cho nó, Mị liền phải trói thay vào đấy,
Mị phải chết trên cái cọc ấy”. Nếu như ngày trước Mị đã từng sợ chết thì bây giờ cái
chết với Mị không còn là điều đáng sợ nữa. Điều gì đã làm cho Mị không sợ hãi. Phải
chăng đó là lúc: Lòng thương người trong Mị đã lớn hơn tất cả mọi nỗi sợ hãi. Tình
thương ấy khiến cô đi đến hành động cởi trói cho A Phủ “Mị lấy con dao chấu nhỏ, cắt
từng nút dây mây”. Cuối cùng thì Mị đã cởi trói cho A Phủ. Nhưng hành động cởi trói
ấy cũng là hành động mà Mị tự giải thoát cho chính mình. Đây cũng là sự tất yếu của
quá trình đấu tranh tâm lý.
c. Đoạn văn cuối cùng tác giả diễn tả sự quật khởi của Mị với sức sống tiềm tàng
mãnh liệt, sức phản kháng quyết liệt:
Đối mặt với hiểm nguy Mị cũng hốt hoảng “Mị đứng lặng trong bóng tối”. Câu văn
tách thành một dòng riêng nằm chơi vơi ở giữa những câu chữ ngổn ngang. Theo “nguyên
lý tảng băng trôi” – hình ảnh Mị đứng lặng chỉ là phần nổi còn ẩn sau những câu chữ và
hành động ấy của Mị là cuộc đấu tranh nội tâm dữ dội: sống hay là chết; tự do hay nô lệ;
đi hay ở ? Cuối cùng tiếng gọi tự do đã vẫy gọi Mị. (Thầy Phan Danh Hiếu)
Trong giây phút đối diện với bản án tử hình ấy lòng ham sống mãnh liệt đã thúc giục
Mị chạy theo A Phủ. Đoạn văn tiếp theo miêu tả hành động Mị toàn những động từ mạnh:
“vụt chạy – băng đi – đuổi kịp – đã lăn – chạy – chạy xuống – nói – thở”. Những động từ
mạnh ấy đã giúp Tô Hoài nhìn thấy được nội lực và sức phản kháng mạnh mẽ cháy bùng
trong Mị. “Một tia lửa nhỏ hôm nay báo hiệu đám cháy ngày mai” (Lỗ Tấn) – nếu đêm
tình mùa xuân là “tia lửa nhỏ” thì hành động chạy theo APhủ của Mị thực sự đã trở thành
“đám cháy”. Cuối cùng Mị đã có sự lựa chọn đúng đắn khi mà khát vọng sống trỗi dậy
thật mãnh liệt, Mị vụt chạy theo A Phủ, cũng có nghĩa là chạy thoát cuộc đời nô lệ, đến
với ánh sáng của tự do. Bước chân Mị như đạp đổ thần quyền của bọn lãnh chúa phong
kiến bao năm qua đè nặng lên Mị. Mị đã nói trong cơn gió thốc “A Phủ cho tôi đi! Ở đây
thì chết mất”. Đó là câu nói thể hiện lòng ham sống, khát vọng tự do đến mãnh liệt trong
Mị. Sau bao nhiêu năm bị thần quyền, cường quyền đè nặng làm Mị dường như quên đi
tiếng nói của đồng loại thì nay Mị đã sống lại. Và câu nói đầu tiên Mị nói được cũng lại là
câu nói đòi tự do, đòi được sống. (Thầy Phan Danh Hiếu)
Đây không phải là hành động mang tính bản năng. Đúng hơn, cùng với sự trỗi dậy
của ký ức, khát vọng sống tự do, đã khiến Mị chạy theo người mà mình vừa cứu. Mị giải
thoát cho A Phủ và giải thoát cho cả bản thân mình! Hành động táo bạo và bất ngờ ấy là
kết quả tất yếu của sức sống tiềm tàng khi người con gái yếu ớt dám chống lại cả cường
quyền và thần quyền. Đó chính là sức phản kháng mạnh mẽ của nhân vật.
* Thành công của tác giả Tô Hoài trong việc xây dựng hình tượng nhân vật Mị
đó là: nhà văn đã tạo tình huống truyện độc đáo, hấp dẫn; cách miêu tả diễn biến tâm lí
nhân vật tài tình, hợp lí tạo nên sự thay đổi số phận nhân vật một cách thuyết phục.
* Tóm lại, nhân vật Mị là linh hồn là hơi thở của tác phẩm. Xây dựng nhân vật Mị là
một thành công đặc sắc của nhà văn Tô Hoài. Qua việc miêu tả diễn biến tâm trạng của
nhân vật Mị trong đêm cởi trói cho A Phủ, Tô Hoài đã khẳng định sức sống tiềm tàng
mãnh liệt và khát vọng tự do của nhân dân lao động Tây Bắc dưới sự thống trị của bọn
lãnh chúa thổ ty miền núi. Có nhà phê bình đã cho rằng: “Văn học nằm ngoài mọi sự
băng hoại. Chỉ riêng mình nó không chấp nhận quy luật của cái chết”. Đúng vậy, sức
sống tiềm tàng mãnh liệt của nhân vật Mị cũng đã làm nên sức sống trường tồn, vĩnh
cửu của tác phẩm Vợ Chồng APhủ.

3. Liên hệ đoạn kết “Chí Phèo” – Nam Cao
a. Giới thiệu tác giả Nam Cao và truyện ngắn Chí Phèo
Nam Cao là một nhà nhân đạo lớn, một ngòi bút hiện thực xuất sắc, một bậc thầy
về nghệ thuật truyện ngắn; sáng tác mang triết lí nhân sinh sâu sắc. “Chí Phèo” là đỉnh
cao trong sự nghiệp của Nam Cao; truyện có kết thúc độc đáo, tô đậm được chủ đề tư
tưởng của tác phẩm.
b. Điểm giống nhau
– Cả hai kết thúc đều thể hiện tấm lòng nhân đạo cao cả, bao dung của hai nhà văn.
– Hai kết thúc truyện cùng phản ánh hiện thực của con người trước những biến cố; cùng
góp phần thể hiện tư tưởng nhân đạo của mỗi nhà văn; cùng là những kết thúc có tính
mở, giàu sức gợi.
c. Điểm riêng của tác phẩm “Chí Phèo”
– Lần uống rượu này khác với bao lần trước đó. Nếu trước đó, rượu khơi gợi bản năng
để dẫn đến những hành động rạch mặt ăn vạ thì lần này rượu lại khơi gợi cả một thế giới
của bi kịch. Rượu – một khi không đủ làm lu mờ lí trí của con người thì nó sẽ quay
ngược trở lại thức tỉnh lý trí của con người. Và rồi “Hắn cứ thoang thoảng thấy hơi
cháo hành. Hắn ôm mặt khóc rưng rức”. Chí khóc bởi vì hiện thực nghiệt ngã đã cướp
mất những ngày hạnh phúc ít ỏi nhưng ngọt ngào của hắn bên cạnh Thị Nở, đồng thời
hắn khóc vì bát cháo hành chỉ còn lại “thoang thoảng” như tình yêu kia chỉ còn là tuyệt
vọng. Thế là thế giới tình yêu vô cùng đẹp đẽ kia thật sự đã sụp đổ rồi. Có thể nói mất
tình yêu với thị Nở, Chí như một người đi trong bóng tối vừa nhìn thấy chút ánh sáng
cho cuộc đời thì ánh sáng đó lại vụt tắt. Tuy vậy, cái tia chớp lóe lên đó dù không đủ sức
soi sáng toàn bộ cuộc đời u tối của Chí thì ít nhiều cũng giúp Chí nhận thấy tình cảnh
tuyệt vọng của mình và bộ mặt của ác thù. Do đó khi say Chí đã vác dao đi với ý định
đâm chết bà cô thị Nở nhưng cái vô thức đã đưa Chí đến nhà bá Kiến “ Tao muốn làm
người lương thiện”. Cả đời, chưa bao giờ Chí lại dõng dạc như thế, dứt khoát như thế,
kiêu hãnh và đầy tự tin như thế. Phải chăng anh canh điền hai mươi tuổi khỏe mạnh và
lòng đầy tự trọng của ngày trước đã trở về? Trở về để đòi lại thứ quý giá nhất của cuộc
đời mình – lương thiện. Qua đó nhà văn Nam Cao cũng góp phần khẳng định: lương
thiện, bản chất thiên lương vốn là thứ không bao giờ mất đi ở người nông dân.
– Hành động giết bá Kiến và sự tự sát của Chí cũng chính là lời tố cáo mạnh mẽ
đối với xã hội vô nhân, lời kêu cứu khẩn thiết về quyền con người – “hãy cứu lấy con
người”. Cái chết của Bá Kiến là niềm mong mỏi của nhân dân về sự kết thúc của một
chế độ đen tối bất công. Chí Phèo chết đó là cách duy nhất Nam Cao ở thời điểm năm
1941 ấy hóa kiếp cho kiếp người thống khổ, chỉ có cái chết mới là sự giải thoát cho một
kiếp người. Cái nhìn của Nam Cao tuy hơi cực đoan, bế tắc song nó hợp với logic của
truyện và nhận thức của nhà văn. Khi cái xấu xa đã ăn sâu vào thành tính cách phẩm
chất của nhân vật mà tác giả chưa biết cách nào thay đổi, thì chỉ chết đi mới rũ bỏ được
tất cả. Tìm đến cái chết, nghĩa là Chí Phèo đang tìm kiếm sự sống, một cuộc sống thật sự
sau khi chết – đó là sự trở về với chính mình. Chính Nam Cao cũng dự báo điều này khi
ông để cho thị Nở nhìn nhanh xuống bụng và trong óc thị thoáng hiện ra cái lò gạch
hoang, vắng người qua lại. Sẽ có một Chí Phèo con ra đời để rồi lặp lại cuộc đời của bố
nó, cũng như bố nó đã lặp lại cuộc đời của Năm Thọ, Binh Chức. Cái vòng luẩn quẩn ấy
sẽ chẳng bao giờ đổi thay nếu như chưa có một ngọn gió mới, một con đường mới. Phải
chăng đó là niềm mong mỏi của nhân dân, của chính nhà văn về một cuộc cách mạng.
4. Chỉ ra nét mới trong cảm hứng nhân đạo của Tô Hoài
– Phát hiện và ngợi ca những phẩm chất cao đẹp của con người nhất là sức sống
tiềm tàng mãnh liệt trong tâm hồn người lao động Tây Bắc.
– Đặt niềm tin vào con người, vào sức vươn dậy của con người. Nếu bức chân dung
của những người nông dân trước cách mạng mà ta bắt gặp đâu đó như ở Chí Phèo, lão Hạc, anh Pha,
chị Dậu,… tất cả đều bị dồn vào bước đường cùng. Những bức chân dung kia hoàn toàn
thiếu ánh sáng của Đảng của cách mạng chiếu rọi. Nếu lão Hạc tìm đến cái chết bằng
việc ăn bả chó; nếu Chí Phèo cả đời chỉ khao khát làm người lương thiện nhưng kết thúc
truyện lại chết quằn quại trên vũng máu; nếu chị Dậu đã phải bán con, bán chó rồi bán
nốt cả đôi dòng sữa của mình để rồi kết cục phải mở cửa chạy ra ngoài trong bầu trời tối
như mực như cái tiền đồ của chị thì nhà văn Tô Hoài khi viết tác phẩm này này đã giác
ngộ ánh sáng của Cách mạng, ý thức của thời đại đã đến với Tô Hoài. Tô Hoài đã không
thể để cho Mị chết rũ xương ở Hồng Ngài. Nhà văn đã bước qua được những giới hạn
của dòng văn học hiện thực phê phán và để Mị gặp A Phủ. Chính điều ấy đã tiếp cho Mị
sức mạnh để giải thoát người cùng cảnh ngộ, giải thoát chính bản thân mình. Như vậy,
Tô Hoài bằng tài năng của mình đã tìm ra tinh thần đoàn kết của người dân Tây Bắc.
Mặt khác, việc Mị cởi trói cho A Phủ có thể coi như một chiếc bản lề khép mở hai
thế giới. Nó khép lại thế giới tăm tối của cuộc sống trâu ngựa, nô lệ ở Hồng Ngài. Nó
mở ra một cuộc sống tươi sáng ở Phiềng Sa bởi đến Phiềng Sa, Mị và A Phủ gặp được
cán bộ Cách mạng là A Châu và được giác ngộ Cách mạng. Cái hành động Mị cởi trói
cho A Phủ trốn khỏi Hồng Ngài đến với tiếng gọi của Cách mạng là một mốc son chói
lọi trong tư tưởng nhân đạo sâu sắc và mới mẻ của Tô Hoài nói riêng và của các nhà văn
sau cách mạng nói chung. Như vậy tiếng kêu cứu của Nam Cao trước cách mạng đã
được Tô Hoài hồi đáp bằng cách giải phóng cho số phận con người, hướng con người
đến ánh sáng của tự do.
III. KẾT BÀI
– Khẳng định lại vấn đề

Loading...